Tính ước lệ tương đối trong các làn điệu dá hai

Thứ bảy 30/07/2022 04:00

Nghiên cứu về dân ca Dá hai cho thấy, Dá hai có 10 làn điệu biểu đạt trạng thái, tâm lý của con người. Mỗi làn điệu mang âm điệu riêng được sử dụng trong kịch bản các vở diễn tuồng Dá hai, thể hiện tính cách nhân vật trong từng tình tiết của tích truyện cổ. Ngày nay, các làn điệu Dá hai đi vào từng bài hát hoặc một ca cảnh nào đó, phản ánh nội tâm con người trong thế giới quan đương đại, mang hơi thở cuộc sống mới.

Thực tế, trạng thái tâm lý, tình cảm của con người rất phong phú, đa dạng, diễn biến mau lẹ, liên tục chuyển động không ngừng, trong mối quan hệ người với người, người với thế giới tự nhiên, kinh tế - xã hội. Chỉ với 10 làn điệu Dá hai quả là rất khiêm tốn, ít ỏi so với trạng thái tâm lý con người, vì thế, việc sử dụng các làn điệu Dá hai trong các tác phẩm diễn tả nội tâm con người là tương đối, mang tính ước lệ cao.

10 làn điệu Dá hai, mỗi làn điệu tương ứng với một trạng thái tâm tư, tình cảm của con người, bao gồm: Phìn tiảo (Phình tiảo) nghĩa là điệu bằng, du dương, được sử dụng làm khúc mở đầu giới thiệu về chủ đề nào đó của bài hát, hay mở đầu cho màn hát tuồng Dá hai kể về tích truyện nào đó. Cáo tiảo, thể hiện tâm trạng thư thái, đủng đỉnh, tiêu dao, sảng khoái của con người. Sly tiảo, điệu ngâm thơ, phản ánh nỗi lòng, tình cảm sâu lắng, tức cảnh nên thơ. Hý tiảo, điệu vui, phấn chấn, hân hoan, tâm trạng con người hoan hỷ, thanh tao. Sai va, điệu hái hoa, phản ánh tâm trạng con người vui tươi, phấn khởi, có phần hào sảng, thăng hoa. Chén cáo tiảo, ngắm nhìn, chiêm nghiệm, bày tỏ tình cảm rộn ràng, bâng khuâng đối với cảnh vật thiên nhiên và con người. Khù tiảo, biểu hiện sự buồn bã, khóc lóc, than thân trách phận. Thán tiảo, hàm nghĩa là than thở, nhưng đôi khi là tự thân giãi bày, tự sự, tâm tư, tình cảm, lý giải về vấn đề gì đó. Cồ pán, bày tỏ nỗi lòng da diết, thương cảm về một vấn đề gì đó. Sấu pán (sáu pán), khái kết về vấn đề nào đó, làn điệu kết thúc một bài Dá hai hay một chương, đoạn, kết thúc vở diễn ca kịch Dá hai.

Trong các vở diễn, bài hát Dá hai, lời ca và âm nhạc gắn bó xoắn xuýt với nhau, nâng đỡ nhau như hình với bóng không thể tách rời. Giữa lời ca và âm nhạc đều quan trọng như nhau, tuy nhiên, trong góc độ tổng quan, lời ca lại là sở cứ, định vị cho âm nhạc thể hiện. Nội dung của lời ca biểu đạt trạng thái vui vẻ của nhân vật thì âm nhạc cũng phải lựa chọn các làn điệu Sai va, Hý tiáo, Cáo tiảo; không thể sử dụng các làn điệu thể hiện trạng thái tâm lý buồn của nhân vật như Khù tiảo. Trường hợp tự sự, suy ngẫm, thể hiện tâm tư, tình cảm nội tâm, sâu lắng phải dùng đến làn điệu Thán tiảo, Cồ pán; tức cảnh làm thơ thì sử dụng làn điệu Sli tiảo…

Rõ ràng, lời ca đòi hỏi âm nhạc phải phù hợp với chính bản thân nó. Chẳng hạn, trong vở "Hoa Mộc Lan tòng quân", tác giả kịch bản viết điệu Phìn tiảo: Hún hý, búng bán/Cái ràu pho me dú phình an, dịch nghĩa: Huôn hỷ, sướng vui/Bố mẹ tôi sống bình an. Hai câu này giới thiệu về một gia đình sống an lành. Một làn điệu khác là Hý tiảo dùng để diễn đạt hình ảnh Hoa Mộc Lan là con gái dệt vải, thể hiện niềm vui như một lẽ đương nhiên: Mù làn ní lục mê nhinh/Ký đảy phin lê tăm pắng/Tắm thúc đáy nung mì lao púng, dịch nghĩa: Mộc Lan là con gái/Nhàn rỗi thì dệt cửi/Dệt vải để mặc không sợ rách.

Trong vở Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài, khi diễn tả hai người hầu theo phục vụ là Rứ Kiấu, Dìn Rấn rất nhiệt tình phục vụ cho họ đi đến Hàng Châu học tập, dù đường xa mệt mỏi nhưng vẫn vui vẻ động viên nhau cố gắng. Tác giả kịch bản đưa làn điệu Sái Vá vào hai câu thơ: Thá vằn sải lùng bứng ráy/Phi nọng ràu can cá kháu rình, dịch nghĩa: Mặt trời đã nghiêng về đằng tây/Anh em mình khẩn trương hết sức. Tác giả kịch bản sử dụng làn điệu Sái vá vào từng trường hợp rất hợp lý.

Tuy nhiên, ai cũng biết Sai va (hái hoa), là điệu vui, nhí nhảnh, tung tăng, vui nồng nhiệt nhưng ở một số trường hợp như: đắc thắng, kiêu ngạo, tự kiêu, ngạo mạn vẫn được các tác giả kịch bản sử dụng; chẳng hạn, kịch bản vở tuồng Phạm Tải - Ngọc Hoa: Biện Điền - tên quan triều đình độc ác muốn giết Phạm Tải để chiếm lấy Ngọc Hoa về làm vợ với thái độ hung hăng, bực dọc: Tha vằn lồng, hái khửn rung quang/Phạm Slảy thai au nàng chấu đảy, dịch nghĩa: Mặt trời lặn, trăng tỏa hào quang/Phạm Tải chết lấy nàng mới được. Khi diễn, nhân vật Biện Điền hát dằn giọng, dậm chân, múa tay; lúc này điệu Sai va không còn mềm mại, tươi vui như lúc thường nhưng vẫn là điệu Sai va. Có đoạn diễn tả Biện Điền quyết lấy bằng được Ngọc Hoa, không được nàng chấp nhận lại còn trách cứ Tảng Công, bố Ngọc Hoa không biết dạy con gái: Sai va, Ngo bấu dư gần xu xiao miền/Mì tài năng nhen nhùng đâư bản/Mình thầư tha nả quảng thằng mường/Pây slán slắn thấng rườn Nhị Hoa, dịch nghĩa: Ta không phải là người bình thường/Có tài năng nhất nhương trong bản/Mặt mày đây quảng đại toàn mường/Đi ăn hỏi đến nhà Ngọc Hoa.

Cũng là Hoa Mộc Lan tòng quân, tác giả lồng điệu Thán tiảo vào tứ thơ: Tế nàng thinh lúc kiáng hói sày/Lân thứng mư thò phày táy sí/Hù cồ mì cúng ní may dần/Sần cố lúc mê nhình phung ni, dịch nghĩa: Bố mẹ hãy nghe con nói đã/Chuyện ngày xưa kể mãi dài dòng/Nơi vương quốc mỹ nhân cung nữ/Quốc gia con gái phụng sự thành. Nội dung lời ca là tâm tình, giãi bày của Ngọc Hoa giải thích với bố mẹ rằng: con gái cũng làm nên nghiệp lớn, có công lớn với quốc gia, lý giải cho bản thân đóng giả trai đi tòng quân...

Thường thì một vở diễn hay một bài hát Dá hai, Phìn tiảo là làn điệu mở đầu, Sấu pán là làn điệu kết thúc, kịch bản Chu Sá Ký - Đường vương - Hồ Phượng Giao, hầu hết theo đúng trình tự như vậy từ màn mở đầu. Tuy nhiên, ngay trong tác phẩm kịch bản này có chương mở đầu là Phìn tiảo nhưng kết thúc là đoạn thoại của các nhân vật. Có màn, làn điệu Sấu pán nằm ở đoạn giữa hoặc gần với Phìn tiảo chứ không ở khúc kết; màn 12 mở đầu lại là Thán tiảo, kết thúc là Thán tiảo và đoạn đối thoại của các nhân vật. Màn 13 mở đầu là Phìn tiảo, sau đó là Sấu pán, tiếp theo là Phìn tiảo, kết thúc là đoạn thoại khá dài của các nhân vật.

Việc phối trí các làn điệu còn phụ thuộc vào tâm trạng nhân vật và bối cảnh diễn ra, do đó, để phản ánh một tích truyện hay hoặc một bài hát Dá hai, tác giả biên tập phải sử dụng nhiều làn điệu phối hợp để diễn đạt toàn bộ nội dung nhưng không sắp xếp tuần tự các làn điệu Dá hai một cách máy móc, khiên cưỡng. Trong việc chuyển thể các làn điệu Dá hai vào từng kịch bản tuồng hoặc một bài hát nào đó đều mang tính ước lệ cao.

Lê Chí Thanh

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh