Sân khấu múa rối ở Cao Bằng một thời danh tiếng

Thứ bảy 11/06/2022 04:00

Các loại hình nghệ thuật dân gian ở Cao Bằng rất phong phú, đa dạng, trong đó, ít ai ngờ tới sân khấu múa rối của người Nùng đã xuất hiện từ xa xưa, danh tiếng một thời trên vùng đất Thông Huề, xã Ðoài Dương (Trùng Khánh) và một số nơi thuộc huyện miền Ðông của tỉnh.

Phố Thông Huề, xã Đoài Dương (Trùng Khánh).

Thị tứ Thông Huề mà người dân quen gọi là phố chợ Thông Huề nằm bên đường tỉnh 206 thuộc xã Đoài Dương, cách Thành phố 51 km về phía Đông Bắc, cách thị trấn Trùng Khánh 9 km. Thị tứ Thông Huề là địa bàn chung sống đoàn kết của các dân tộc: Nùng, Tày, Kinh… Nơi đây có chợ Thông Huề được bao quanh bởi các nếp nhà kiên cố tọa lạc soi bóng bên dòng sông Bắc Vọng uốn lượn nhẹ nhàng và thơ mộng ôm lấy phố Thông Huề. Thị tứ Thông Huề có chợ Thông Huề danh tiếng một thời "trên bến, dưới thuyền" giao thương sầm uất, mang đậm nét văn hóa phố chợ. Hằng năm, Thông Huề còn diễn ra Lễ hội miếu Long Vương ven chân núi Tam Tiên, thả đèn hoa đăng bên dòng sông Bắc Vọng xanh biếc và những làn điệu dân ca Dá hai, Hà lều cất lên vời vợi trữ tình, giao duyên. Phố chợ Thông Huề với vị trí địa lý, giao thông thuận lợi đã thu hút các đoàn thương gia buôn bán, khách thập phương qua đây dừng chân thưởng ngoạn cảnh trí, ẩm thực với nhiều món ngon đặc sắc.

Những năm 20, 30 của thế kỷ XX, khách lữ hành sau những ngày dài giao thương mệt mỏi, dừng nghỉ qua đêm tại phố chợ Thông Huề luôn có nhu cầu thưởng thức văn hóa, nghệ thuật để thư giãn tinh thần. Bà con người Nùng phố chợ đã hát cho họ nghe về các tích truyện cổ gọi là "Xướng Tiều chử". Hình thức hát Xướng Tiều chử nghĩa là hát trích đoạn về một tích truyện nào đó của Việt Nam và Trung Hoa, như: "Hoa phù dung", "Mai lý - Liên Chi", "Tống Chân - Cúc Hoa", "Phạm Tải - Ngọc Hoa", "Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài", "Kết nghĩa đào viên", Thạch Sanh - Lý Thông, Quan Triều… cuốn hút các thương gia và bà con thưởng thức. Trải qua thời gian dài, việc kể chuyện trích đoạn như vậy trở nên nhàm chán bởi sự lặp đi, lặp lại, đơn giản, không thỏa mãn được nhu cầu của người nghe. Vì vậy, các nghệ nhân muốn hát xướng dài hơi cả câu chuyện, muốn cải thiện sự đơn điệu để nâng cao chất lượng nghệ thuật diễn xướng nên "Mộc thàu hý" ra đời.

Mộc thàu hý, ngay cái tên gọi đã toát lên hình hài của nó. Thực chất là các con rối đầu gỗ, dùng để minh họa sinh động cho từng tình tiết cốt truyện do các nghệ nhân điều khiển bằng các ngón tay với các sợi dây mảnh nối vào đầu và tứ chi, làm chúng cử động theo đúng ý diễn đạt của mình. Một nghệ nhân có thể đảm nhiệm cùng lúc hai vai diễn bằng hai tay. Tất cả các hoạt động nghệ thuật được biểu diễn trên một sân khấu nhỏ dựng trong không gian hẹp, ngay cả ở sòng bài. Mộc thàu hý trong diễn xuất luôn có các nghệ nhân hát các làn điệu Dá hai và âm nhạc đi kèm. Đội nhạc thường có 3 người trở lên sử dụng hồ và nhị, gọi là nhị bố, nhị mẹ hay nhị đực, nhị cái; âm thanh trầm bổng réo rắt, hai bè quấn quýt vào nhau, đôi lúc lại có tiếng sáo vút lên hòa âm cùng với chiếc trống nhỏ gõ nhịp, phách, biểu đạt sự khởi đầu câu truyện gắn với diễn xuất của nhân vật (bằng con rối), hay lúc hạ màn kết thúc vở diễn.

Mộc thàu hý với sân khấu mặt tiền rộng khoảng 2 m, cao 2,2 m. Phần sân khấu, từ mặt đất lên che kín 0,8 m, phía trên có rèm rủ xuống 0,6 m, tấm phông hậu chắn phía sau, hai bên cánh gà rộng 0,4 m. Nhìn từ phía trước, khán giả sẽ thấy một hình hộp chữ nhật dài 2 m, cao 0,8 m. Diễn viên đứng sau phông hậu giật dây, điều khiển các con rối gỗ và hát xướng, thổi hồn vào từng nhân vật trong các tích truyện cổ. Con rối được tạo thành những nhân vật như: nông dân, quan văn, quan võ, thư sinh, mỹ nhân hoàng đế, tướng cướp, ác quỷ… Nghệ nhân dùng sơn màu vẽ lên khuôn mặt, râu, tóc…, điều khiển bằng 5 sợi dây nối vào từng bộ phận của cơ thể (đầu, hai tay, hai chân). Mộc thàu hý đã làm cho các con rối vô tri trở nên sống động, phản ánh tâm trạng nhân vật, kể được các tích truyện cổ bởi lời ca, lời thoại, điệu ngâm của nghệ nhân ăn khớp với từng hành vi, động tác của con rối. Với cách thức trình diễn nghệ thuật Mộc thàu hý như vậy phải dựng lên sân khấu theo một khuôn mẫu nhất định để thể hiện.

Mộc thàu hý được biểu diễn vào dịp Lễ hội miếu Long Vương, ngày chợ hội Háng toán, Lễ hội Lồng tồng và các hoạt động văn hóa, văn nghệ của phố Thông Huề, thậm chí phục vụ suốt đêm cho sòng bạc. Đội Mộc thàu hý biểu diễn không bán vé mà do khách úy lạo tùy tâm, dần dần một số nghệ nhân nhận ra đây cũng là cách kiếm tiền trang trải cuộc sống. Khán giả đến với Mộc thàu hý ngày càng nhiều, sau mỗi lần diễn, nghệ nhân cũng có được ít tiền dư dả, họ dành một phần phục vụ sinh hoạt của gia đình, một phần tu bổ những con rối, nhạc cụ, khí cụ. Do vậy, Đội Mộc thàu hý Thông Huề đã thu hút nhiều nghệ nhân có tài diễn xuất trong công chúng.

Những năm 1939 - 1944, bên cạnh việc trình diễn tại Thông Huề, đội đi biểu diễn tại một số nơi trong tỉnh: phục vụ tại phố chợ Cao Bình với các vở trích đoạn Thủy Hử, Tam Quốc, Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài, Hoa Mộc Lan tòng quân, Mai Lý - Liên Chi, Chư sá ký đường vương, Tống Chân - Cúc Hoa, Phạm Tải - Ngọc Hoa, Lục Vân Tiên và các vở theo cốt truyện của địa phương như Thạch Sanh, Quan Triều. Đó là thời kỳ huy hoàng, đỉnh cao của Mộc thàu hý, được các tầng lớp nhân dân mến mộ, yêu thích. Cùng thời điểm ấy, xuất hiện Mộc thàu hý ở thị trấn Trà Lĩnh, thị trấn Quảng Uyên, vùng Nặm Nhũng, Tổng Cọt (Hà Quảng), nhưng Đội Mộc thàu hý Thông Huề hoạt động mạnh nhất, có khả năng lưu diễn tại nhiều nơi.

Tuy nhiên, hai tay của một nghệ nhân cũng chỉ điều khiển được 2 con rối, nên Mộc thàu hý rất khó biểu đạt với những vở diễn, màn kịch nhiều nhân vật. Động tác của những con rối lắc lư, nghiêng ngả… cứng nhắc, đơn giản, lặp đi, lặp lại, gây sự nhàm chán, không thể uyển chuyển trong diễn xuất phức hợp, không phản ánh sinh động trạng thái tâm lý của con người. Mặt khác, Mộc thàu hý trình diễn trong đêm, người ta bố trí đèn dầu thực vật tại mặt tiền sân khấu để chiếu ánh sáng hắt vào sân khấu, nhưng gây chói mắt cho khán giả; nhiều khi khói bay ra làm cay mắt nghệ nhân đang diễn xuất cùng các con rối.

Đến năm 1945, toàn dân vùng biên giới hòa vào dòng chảy Cách mạng Tháng Tám, khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, Mộc thàu hý không chuyển mình theo kịp thời đại. Từ năm 1946 - 1954, cả nước bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược. Các khu đông người, thị tứ, thị trấn, thị xã phải sơ tán, vườn không nhà trống, các phiên chợ họp tại nơi hẻo lánh, núi rừng để đảm bảo an toàn cho nhân dân. Phố chợ Thông Huề cũng trong tình trạng như vậy nên Mộc thàu hý không còn đất diễn, từ đó, Mộc thàu hý bị mai một và đi vào dĩ vãng trong sự tiếc nuối của nhân dân.

Sân khấu Mộc thàu hý hình thành ở Thông Huề còn sơ giản, nhưng đó là hình thức tiền sân khấu của những con rối biểu diễn đóng thế nhân vật tích truyện, do diễn viên điều khiển và hát các làn điệu Dá hai, tương tự như sân khấu múa rối. Gần một thế kỷ qua, đến nay, sân khấu múa rối Mộc thàu hý không còn nữa nhưng hình ảnh của nó vẫn nằm trong tâm thức dân gian, nhất là những nghệ nhân, người cao tuổi ở Thông Huề, xã Đoài Dương và địa bàn miền Đông của tỉnh. Đó là một loại hình di sản văn hóa quý báu, cần được tìm hiểu kỹ lưỡng để bảo tồn, lưu giữ và phát huy gắn với phát triển du lịch trên địa bàn.

Lê Chí Thanh

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh