Bạn đang xem: Trang chủ » Non nước Cao Bằng

Đền Bà Hoàng

Chủ nhật 17/07/2022 16:00

Ðền Bà Hoàng thuộc phường Sông Bằng (khu Nà Cạn cũ), thành phố Cao Bằng, thờ Minh Ðức Hoàng Hậu, vợ của Nùng Tồn Phúc, mẹ của Nùng Trí Cao.

Đền Bà Hoàng, phường Sông Bằng (Thành phố).    Ảnh: Thế Vĩnh

Khi xưa, đền Bà Hoàng tọa lạc ven chân núi Kim Pha sừng sững, bạt ngàn rừng đại ngàn nhiệt đới nguyên sinh; cạnh đó là núi Mã Phi như bầy ngựa chiến nhấp nhô tung vó in hình lên lưng trời xanh thắm. Phía bên phải là con suối nước trong vắt, quanh năm rì rào chảy về cánh đồng Nà Cạn cung cấp nước tưới tiêu cho lúa và hoa màu tươi tốt quanh năm. Toàn cảnh phía sau đền như bức tranh rồng bay, phượng múa, sơn thủy hữu tình đẹp huyền ảo, làm cho ngôi đền càng linh thiêng.

Hiện nay, Đền được xây bằng gạch, ba gian lợp ngói âm dương, mỗi gian rộng 3 m; hai đầu hồi trang trí đôi phượng hoàng dang rộng cánh bay hướng lên trời. Gian giữa có một bệ thờ đặt tượng Bà Hoàng trùm khăn đỏ, phía trái đền dựng một gian bếp để phục vụ những ngày tế lễ. Mặt trước đền là khoảng sân rộng rãi, bằng phẳng có thể tổ chức các trò chơi dân gian, hát then, sli, lượn...

Minh Đức Hoàng Hậu là người phụ nữ danh tiếng, một thời lừng lẫy gắn liền với chặng đường lịch sử dựng nước và giữ nước hào hùng của dân tộc trên vùng đất biên viễn phía Bắc. Thế kỷ XI, năm Mậu Dần 1038, một tù trưởng tên là Nùng Tồn Phúc ở châu Quảng Nguyên (vùng đất Cao Bằng ngày nay) tự xưng là Chiêu Thánh Hoàng Đế, đặt quốc hiệu Trường Sinh, lập vợ là A Nùng làm Hoàng hậu, cát cứ một vùng rộng lớn đối diện với nhà Tống ở bên kia biên giới. Triều Lý cho là làm phản, năm 1039, vua Lý Thái Tông thân chinh thống lĩnh đại quân lên Cao Bằng dẹp loạn, bắt được Nùng Tồn Phúc và con trưởng Nùng Trí Thông dẫn giải về kinh đô xử tội. Hai mẹ con A Nùng và con thứ là Nùng Trí Cao chạy thoát thân. Năm Tân Tỵ niên hiệu Càn phủ hữu đạo thứ ba triều Lý 1042, Trí Cao thừa kế chức cha xin dâng biểu triều đình. Vua Lý thương tình, ra chiếu tha tội và cho mẹ con Trí Cao cai quản châu Quảng Nguyên để giữ vững vùng đất phên dậu và ban cho đô ấn, phong chức Thái bảo. Năm Nhâm Ngọ niên hiệu Minh đạo nguyên niên 1043, hai mẹ con chiếm cứ được 3 châu: Do Lôi, Hỏa Động, Thảng Do và dựng nên nước Đại Lịch. Nhà Lý cho thêm 4 động: Hỏa Lôi, An Bình, Bà và châu Tư Lang. Sau đó, Trí Cao dâng biểu triều đình dẫn binh đánh Ung Châu nhà Tống, mở rộng bờ cõi. Cuộc chinh phạt đánh đâu thắng đấy, sau đó lấy được cả vùng đất Lĩnh Tây.

Năm 1049, Trí Cao và bà A Nùng chiếm giữ được châu An Đức, tự xưng là Nam Thiên Quốc; đến năm 1052, đánh chiếm xong Ung Châu, Trí Cao xưng là Nhân Huệ hoàng đế và đặt Quốc hiệu Đại Nam, thế mạnh như chẻ tre, đến đâu cũng vỗ về an dân, được nhân dân ủng hộ. Nhà Tống phải khiếp sợ kinh hoàng, ra chiếu: nếu ai giết được A Nùng hoặc Trí Cao sẽ được thưởng 3.000 quan. Theo truyện lưu truyền trong dân gian, một năm sau đó, Nùng Trí Cao bị thua trận ở Côn Lôn, chạy về phủ thự, ngày ngày buồn bã rồi cưỡi ngựa đi đâu biệt xứ. Bà A Nùng chiếm giữ động Đặc Ma, nay là vùng Vân Sơn tỉnh Vân Nam, nuôi trí trả thù cho con, bà sai Nông Hạ Khanh chiêu tập binh lính lên tới hơn vạn quân, mua sắm vũ khí, dự trữ lương thực, lập đội kỵ binh đánh lên phía Bắc, làm rung chuyển đất Ung Châu. Sau đó bị thua trận, bà chạy về Quảng Nguyên và qua đời tại đây.

Minh Đức Hoàng Hậu A Nùng là người phụ nữ đôn hậu, mạnh mẽ, tài giỏi, mưu lược. Bà có công lớn nuôi dạy, rèn luyện võ nghệ cho con trai Nùng Trí Cao, sau này Trí Cao trở thành một dũng tướng miền biên ải, người anh hùng giúp nhà Lý dựng nên thành lũy trấn giữ biên cương, bảo vệ một vùng rộng lớn cương vực phía Bắc của lãnh thổ quốc gia. Bà là quân sư trực tiếp cho Trí Cao trong từng trận đánh và được nhà Lý mời làm cố vấn tướng lĩnh. Ngoài ra, bà còn dạy nhân dân trồng lúa, hoa màu, chăn nuôi gia súc, được dân chúng suy tôn là Thần gia súc.

Nhà Lý đặc chiếu truy phong bà A Nùng làm Bà Hoàng Đại Vương. Để ghi nhớ công lao của bà, nhân dân châu Quảng Nguyên lập đền thờ tại thôn Phù Vạn, xã Kim Pha, châu Thạch Lâm. Ngôi đền mang tên đền Bà Hoàng từ đó. Thời triều Lý, ngôi đền được phong là Thượng đẳng thần, xuân thu nhị kỳ quốc lễ. Các triều đại tiếp tục vinh tôn gia phong mỹ tự: Bà Hoàng phổ ứng hiển linh diệu cảm, Hồng hựu tĩnh trấn biên phu linh thông, phục viễn ninh cảnh, Vũ di hiển hưu, Cảm ứng hộ quốc, Ninh dân dương vũ đinh công Đại Vương.

Năm 1947, thực dân Pháp phá đền, dựng đồn bảo vệ sân bay Nà Cạn; để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng tâm linh, nhân dân vùng Nà Cạn đã dựng lại đền trên nền đất cũ để có chỗ hương bái thờ bà. Hiện tại, trong đền chỉ có một bệ thờ bằng gạch ốp, gạch men cao khoảng 70 cm, dài 1,6 m, rộng 80 cm. Ban thờ đặt 4 bát hương, ở giữa là bát hương to; trên tường phía bên trong treo một bức trướng vải đỏ và câu đối giấy đỏ bằng chữ Hán; hai bên treo hai chiếc quạt lụa màu tím.

Lễ hội đền Bà Hoàng được tổ chức hai ngày trong năm, là ngày 15 tháng Giêng và ngày 5/5 âm lịch. Lễ hội vừa thể hiện lòng thành kính với Bà Hoàng Đại Vương, vừa mang tính chất cầu mùa, cầu phúc, mong bà ban cho cuộc sống an lành, may mắn. Để chuẩn bị cho ngày hội, nhân dân trong vùng tự giác đóng góp mỗi nhà một bơ gạo, ít tiền mua hương, hoa, tổ chức nghi lễ. Lễ vật thờ cúng gồm: mâm xôi, con lợn quay hoặc thủ lợn; đặc biệt có thêm một đoạn phèo non, sau thay bằng bánh chè lam cùng với hoa quả và 3 bông lau to, tượng trưng cho bông lúa được mùa.

Gia đình được chọn để dâng mâm lễ là gia đình làm ăn thuận lợi từ năm trước, mọi người đều mạnh khỏe, con cháu thành đạt, ngoan ngoãn. Nghi lễ diễn ra long trọng, chủ tế là người có vai vế, uy tín trong vùng. Sau khi xong phần nghi lễ, gia đình dâng mâm lễ sẽ cầm 3 bông lau đem về cắm vào ruộng nhà mình, với ước mong cả vùng đều được mùa bội thu. Tại lễ hội còn tổ chức các trò chơi dân gian ngay tại sân trước đền, sau đó, mọi người cùng nhau thụ lễ, ăn uống vui vẻ, đoàn kết, đông vui, thắm tình làng, nghĩa xóm, khu phố.

Đền Bà Hoàng là di tích lịch sử văn hóa thờ Thượng đẳng thần Bà Hoàng Đại Vương A Nùng, một nhân vật nổi tiếng trong lịch sử thế kỷ XI, người phụ nữ thao lược, tài ba, có công lớn trong thời nhà Lý. Hình ảnh của bà và ngôi đền thờ đã đi vào các trang tư liệu cổ như Đại Việt sử ký toàn thư; trong cuốn Đền thờ và lăng tẩm Việt Nam, Bà Hoàng Đại Vương A Nùng đã được vinh danh trang trọng. Đến với đền Bà Hoàng, chúng ta hiểu biết thêm về một trang sử hào hùng, biết ơn và tự hào về một bậc tiền nhân - người mẹ của Khâu Sầm Đại Vương Nùng Trí Cao, khơi dậy lòng yêu nước trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước.

Đền được Nhà nước công nhận Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh ngày 4/11/2008.

Lê Chí Thanh

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh