Bạn đang xem: Trang chủ » Non nước Cao Bằng

Anh hùng Đàm Văn Ngụy

Chủ nhật 17/10/2021 05:00

Đồng chí Đàm Văn Ngụy, dân tộc Tày, bí danh là Văn Chung, sinh năm 1927 tại xã Minh Khai (Thạch An). Năm 1942, khi mới tròn 15 tuổi, Đàm Văn Ngụy đã hăng hái tham gia Việt Minh, làm liên lạc viên, tiếp tế nuôi dưỡng, tham gia chiến đấu cùng anh em du kích bảo vệ cán bộ hoạt động bí mật ở địa phương. Tháng 1/1945, đồng chí Đàm Văn Ngụy gia nhập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. 

Đồng chí Đàm Văn Ngụy.

Ngay sau ngày nhập ngũ, đồng chí được phân công làm Tiểu đội phó, thuộc Đại đội 2. Là cán bộ Tiểu đội nhiệt huyết, dũng cảm, mưu trí, luôn biết cách vượt qua khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Ngày 1/4/1945, quân giải phóng đánh đồn Pò Mã, Thất Khê (Lạng Sơn); súng nổ, quân địch co cụm lại ngoan cố kháng cự, đồng chí nhanh chóng nảy ra ý định táo bạo, cùng hai chiến sĩ bất ngờ xung phong trèo lên chọc thủng tầng mái lô cốt bằng đất nện dày và thả lựu đạn vào trong, cả 30 tên hốt hoảng mang vũ khí ra hàng.

Năm 1946, trong trận phòng ngự diễn ra tại Đồng Đăng (Lạng Sơn), tiểu đội đồng chí nhận nhiệm vụ trên giao là phải chiếm lĩnh ngọn núi ở đầu ngõ tiền tiêu, chặn đứng địch, giữ chân chúng không cho tiến vào, tạo điều kiện cho các đơn vị, cơ quan rút khỏi nơi này. Một đại đội địch được trang bị hỏa lực mạnh đã bao vây công kích, tạo thành mũi nhọn nhằm chọc thủng phòng tuyến của ta. Đồng chí gan dạ, bình tĩnh chỉ huy tiểu đội đánh lui 4 đợt tiến công của địch, hoàn thành tốt nhiệm vụ cấp trên giao, đảm bảo an toàn cho lực lượng của ta.

Cuối năm 1946, tiểu đội của đồng chí được giao nhiệm vụ đánh cản bước tiến của địch và rút về sau để đơn vị bảo toàn đến nơi tập kết. Đồng chí đã chỉ huy tiểu đội quần lộn với một trung đội địch tại Con Pheo (Lạng Sơn). Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, đồng chí dẫn đầu tiểu đội vượt qua cánh đồng, băng tới chân núi thì bị hai đại đội địch chặn đường bao vây. Mặc dù lực lượng quân số quá chênh lệch, không cân sức nhưng với sự chỉ huy tài tình, linh hoạt, đồng chí đã cùng tiểu đội “lấy ít địch nhiều”, khoan thủng vòng vây địch, buộc chúng phải bỏ cuộc, rút lui.

Tháng 4/1947, đơn vị đồng chí nhận nhiệm vụ phục kích đánh đoàn xe thiết giáp của địch trên Đường số 4, đoạn từ Pó Củng (Thạch An) đến Lũng Vài, Thất Khê (Lạng Sơn). Khi đội hình địch lọt vào trận địa mai phục của ta, có lệnh xuất kích, đồng chí đã dẫn đầu tiểu đội xung phong nhảy lên xe thiết giáp, dùng lựu đạn ném hủy diệt xe và tiêu diệt địch. Một tên lính liều mạng xông lên ôm chặt đồng chí, cả hai cùng ngã lăn xuống mặt đường vật lộn, vừa lúc đó, cả đơn vị đã kịp thời ập đến tiêu diệt và bắt sống chúng. 

Giữa lúc quân và dân ta đang nỗ lực gấp rút chuẩn bị cho Chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông, tháng 9/1947, đồng chí Đàm Văn Ngụy đã vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Kết thúc thắng lợi Chiến dịch Biên giới Thu - Đông, tháng 12/1947, đồng chí là Trung đội phó, Đại đội 181 thuộc Trung đoàn 28; sau đó được điều động sang công tác tại Trung đoàn 174, còn gọi là Trung đoàn Cao - Bắc - Lạng, giữ chức Quản trị trưởng, Trung đội trưởng của Đại đội 508.

Tháng 8/1949, đơn vị đồng chí lại tổ chức phục kích đánh địch trên Đường số 4, đoạn qua Lũng Vài. Khi chúng sa vào trận địa mai phục, lệnh xuất kích vang lên, đồng chí dẫn đầu trung đội xung phong chia cắt đội hình, làm chúng rối loạn, tiêu diệt 20 tên; tạo điều kiện cho đơn vị tiến công diệt nhiều xe và lính. Tháng 7/1952, đồng chí được cử đi học tập, đào tạo tại Trường Lục quân Việt Nam, khóa 7. Kết thúc khóa học, đồng chí được cấp trên bổ nhiệm làm Đại đội trưởng, Trung đoàn 176, Sư đoàn Bông Lau 316. 

Tháng 1/1953, đơn vị đang di chuyển đội hình để bao vây, tiến công Nà Sản, Sơn La, bất ngờ bị một đại đội biệt kích của địch tập kích đánh lén vào bộ phận quân y phía sau đội hình, rồi rút ngay. Trước tình thế đó, căm thù sục sôi dâng lên, đồng chí nhanh chóng tổ chức cán bộ, chiến sĩ khẩn trương băng rừng, lội suối hơn 6 giờ liên tục truy kích địch, tiêu diệt 14 tên và bắn bị thương nhiều tên khác, mà vẫn đảm bảo an toàn, kịp thời cùng đơn vị tiếp tục hành quân. 

Ngày 7/5/1956, đồng chí vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Tháng 2/1960, đồng chí được cấp trên đề bạt giữ chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1, sau đó là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 174, Sư đoàn 316. 

Tháng 4/1960, đồng chí cùng Sư đoàn 316 hành quân vào Tây Nguyên, chỉ huy đơn vị đánh địch ở Đắc Tô, Tân Cảnh, Plây Cần (Kon Tum). Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Phó Tư lệnh Sư đoàn 1, Mặt trận B2. Đầu những năm 70, cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta bước vào thời kỳ quyết liệt nhất, cả miền Nam sục sôi đánh Mỹ, đồng chí được điều động giữ chức Quyền Tư lệnh Sư đoàn 7, sau đó là Đảng ủy viên, Chỉ huy phó Đoàn 301 thuộc Bộ Tư lệnh Miền. Tháng 7/1973, đồng chí được phân công trở lại đơn vị, giữ chức Tư lệnh Sư đoàn 316, giải phóng Tây Nguyên, tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Tháng 4/1976, đồng chí được phân công làm Hiệu phó Trường Sĩ quan Chính trị, Phó Tư lệnh Quân khu 1. Từ tháng 9/1978 đến năm 1979, đồng chí là Chỉ huy trưởng Quân sự Mặt trận thống nhất ở Cao Bằng, cùng quân và dân ta làm nên chiến thắng chiến tranh biên giới tháng 2/1979. 

Trải qua nhiều cương vị công tác, là người cán bộ cần mẫn, kiên trung, tác phong quần chúng, chỉ huy kiên quyết, mạnh mẽ; nhiệm vụ nào cũng hoàn thành xuất sắc, được đồng đội và nhân dân quý trọng, tin yêu. Tháng 1/1980, đồng chí vinh dự được Đảng, Nhà nước phong quân hàm Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam. Tháng 1/1981, đồng chí đảm nhiệm chức Phó Tư lệnh Quân khu 1. Năm 1983, đồng chí tham dự lớp bổ túc quân sự tại Học viện Quân sự Vô-rô-si-lôp ở Liên Xô. Tháng 12/1984, đồng chí vinh dự được thăng quân hàm Trung tướng Quân đội nhân dân Việt Nam. Bước vào thời kỳ đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, năm 1986, đồng chí là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Tư lệnh, Tư lệnh Quân khu 1. Đến tháng 1/1997, đồng chí nghỉ hưu theo chế độ.
Quá trình tham gia quân ngũ, Trung tướng Đàm Văn Ngụy đã có nhiều cống hiến lớn, được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Chiến công hạng nhì, ba; Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng nhất, nhì, ba; Huân chương Kháng chiến hạng nhất, Huân chương Chiến thắng hạng ba và nhiều danh hiệu cao quý khác. Đồng chí là Ủy viên Trung ương Đảng khóa VI, VII và là đại biểu Quốc hội khóa VIII. 

Lê Chí Thanh

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh