Bạn đang xem: Trang chủ » Ký - Phóng sự

Truyền giữ ngọn lửa đam mê với nghệ thuật truyền thống dân tộc

Chủ nhật 22/01/2023 16:00

Trong kho tàng văn nghệ dân gian cổ truyền của người Tày, Nùng Cao Bằng, nghệ thuật diễn xướng Then của người Tày và tuồng Dá Hai của người Nùng được phát sinh, tồn tại, biến đổi và phát triển trong lòng dân tộc. Bằng tình yêu đặc biệt với văn hóa truyền thống, các nghệ nhân nói chung và nghệ nhân ưu tú nói riêng như một “kho tàng sống” trong công tác bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị truyền thống.

Nghệ nhân Ưu tú Nông Thị Nhít (đứng đầu tiên phía trước) cùng đội múa Chầu biểu diễn một tiết mục múa Chầu.

TRỌN VẸN CUỘC ĐỜI VỚI ĐIỆU MÚA CHẦU

Sinh ra và lớn lên ở bản Tày, lại có mẹ làm Then Bụt (Pựt), từ khi còn nhỏ, Nghệ nhân Ưu tú Nông Thị Nhít (năm nay 84 tuổi, bản Pò Lài, xã Trọng Con, Thạch An) đã được nghe mẹ hát Then - đàn tính và được mẹ đưa đi cùng trong các cuộc diễn xướng Then ở hội xuân, lễ cầu yên, lễ cấp sắc, lễ mừng nhà mới... Làn điệu Then du dương, trầm bổng cùng điệu múa Chầu lúc dứt khoát, khi uyển chuyển thấm vào bà từng ngày, 12 tuổi bà đã yêu thích và biết múa Chầu. Lớn lên, bà thích Then cùng với múa Chầu như một lẽ tự nhiên, như một năng khiếu bẩm sinh.

Hằng ngày, bà cùng mọi người đi làm ruộng, tối về tập hợp các chị em trong bản để luyện tập, biểu diễn múa Chầu. Năm 2005, Đội múa Chầu bản Pò Lài chính thức ra mắt gồm 9 thành viên (1 người đàn, 8 người múa), trong đó, bà Nông Thị Nhít là người đại diện. Đội múa Chầu bản Pò Lài còn đi biểu diễn ở các lễ hội xuân truyền thống trong và ngoài huyện, được mời tham gia biểu diễn ở các sự kiện văn hóa - nghệ thuật lớn như Liên hoan hát Then - đàn tính do tỉnh tổ chức. Năm 2017, cá nhân bà được đồng chí Tòng Thị Phóng, khi đó đang là Phó Chủ tịch Quốc hội đến thăm và tặng quà, đây là nguồn động viên và động lực rất lớn đối với bà để tiếp tục truyền dạy múa Chầu cho các thế hệ. Cuộc sống nhà nông vất vả chân lấm tay bùn, nhưng dù có khó khăn, vất vả đến đâu, chỉ cần có một hội diễn, có một chương trình nghệ thuật do xã, huyện tổ chức, bà và đội múa đều hăng hái tham gia nhiệt tình.

Không chỉ múa Chầu theo các làn điệu Then cổ, bà còn tự biên tự diễn, chỉnh sửa lời các bài hát ca ngợi Đảng, Bác Hồ, các bài hát giao duyên… theo làn điệu lượn Slương, Phong Slư cho hay hơn, phù hợp với cuộc sống mới. Riêng múa Chầu, bà giữ nguyên theo các làn điệu Then cổ như các bài "Giải xung giải hạn", "Rặp khoăn", "Hỉn én"…

Bà chia sẻ: Múa Chầu ("Chầu" tức là chầu trời, chầu đất, chầu Nam Tào, Bắc Đẩu… để giải xung, giải hạn, cầu phúc, cầu tài…) là loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian có từ xa xưa, thường diễn ra vào các dịp lễ, Tết, lễ cầu an, lễ cấp sắc, mừng nhà mới... Múa Chầu có ý nghĩa cầu phúc, cầu lộc cho gia đình, cầu mùa màng tốt tươi, cầu bình an, sức khỏe. Trong cuộc diễn xướng Then, các chúa Then thường thể hiện điệu múa Chầu song song với khúc hát chầu tổ tiên, chầu cung vua... Người múa Chầu tay phải cầm chùm sóc nhạc theo nhịp bước, tay trái cầm quạt, di chuyển vòng tròn, hàng ngang, xiên, tiến lùi, thực hiện các động tác múa đứng, múa quỳ, múa ngồi. Các động tác múa khoan thai, uyển chuyển, nhẹ nhàng mà dứt khoát, mang tính ước lệ theo nhịp đàn tính; thể hiện mô phỏng các thao tác lao động sản xuất, từ việc cày cấy, thu hoạch, chăn nuôi, săn bắt, tạo nên các sản phẩm có mặt trong mâm lễ vật dâng cúng.

Theo bà, tất cả những ai biết các loại hình văn hóa nghệ thuật truyền thống đều phải biết truyền dạy lại cho thế hệ trẻ để gìn giữ lại di sản của ông cha ta từ ngày xưa để lại. Bà đã truyền dạy lại điệu múa Chầu cho các thế hệ ở bản Pò Lài đến nay được hơn 20 người, từ trung niên đến các cháu học sinh. Mỗi lúc truyền dạy các em, các cháu luyện tập múa Chầu mang lại cho bà cảm giác rất khó tả, đó là niềm tự hào vì bản sắc văn hóa dân tộc mình không những được duy trì mà còn lan tỏa niềm đam mê cho các thế hệ biết trân trọng, giữ gìn, nhất là khi các cháu múa đúng, múa đẹp bà cảm nhận được rằng mình đã thành công.

Múa Chầu góp phần làm cho diễn xướng Then trở nên hấp dẫn vì sức cuốn hút mang đậm yếu tố sân khấu tâm linh của Then, có ý nghĩa rất lớn trong đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào dân tộc Tày nói chung và đồng bào Tày ở Pò Lài, xã Trọng Con nói riêng. Gắn bó với Then cũng như múa Chầu từ rất sớm và đã có hơn 70 năm gắn bó với nghệ thuật truyền thống của quê hương, được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú năm 2022 dù có chút muộn song đây là niềm hạnh phúc không chỉ đối với bà mà còn là vinh dự của bà con bản Pò Lài. Điều mà bà mong mỏi nhất đó là gìn giữ, lan tỏa múa Chầu đến muôn thế hệ sau để bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể truyền thống của cha ông để lại.

Hai Nghệ nhân Ưu tú Nông Sình Ríu và Hoàng Văn Rứ biểu diễn kéo nhị trong Dá Hai.

DUYÊN NỢ VỚI TUỒNG DÁ HAI

Với niềm đam mê và tình yêu sâu sắc dành cho văn hóa dân tộc, hai Nghệ nhân Ưu tú Nông Sình Ríu (sinh năm 1954) và Hoàng Văn Rứ (sinh năm 1950) ở xóm phố Thông Huề, xã Đoài Dương (Trùng Khánh) đã dành nhiều tâm huyết trong việc lưu giữ, bảo tồn, lan tỏa dân ca Dá Hai - môn nghệ thuật sang trọng vang danh một thời gắn liền với địa danh Thông Huề và càng có sức cuốn hút khi trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm.

Nghe danh tuồng Dá Hai đã lâu và thưởng thức Dá Hai cũng nhiều qua các video ca nhạc của nghệ sĩ chuyên nghiệp, hôm nay tôi mới có dịp được thưởng thức Dá Hai đúng chất nguyên bản ở chính cái nôi của nó - đất Thông Huề. Qua các làn điệu: Phìn tiẻo, Sai vá, Hỷ tiẻo, Slí tiẻo, Thán tiẻo… và tiếng nhị réo rắt của hai nghệ nhân, tôi cảm giác như được đưa trở về những năm tháng văn nghệ quần chúng hát Dá Hai phát triển mạnh mẽ với các vở diễn trên sân khấu: Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài, Tống Trân - Cúc Hoa, Hoa Mộc Lan tòng quân… làm nức lòng khán giả khắp miền Đông và cả tỉnh cuối những năm 50 đầu 60 của thế kỷ trước. Câu chuyện giữa tôi và hai nghệ nhân không theo trình tự qua dòng hồi tưởng của hai ông và có lúc bị gián đoạn bởi sự xúc động đến nghẹn ngào của hai nghệ nhân đã chứng kiến những thăng trầm của Dá Hai.

Sống trong chiếc nôi của tuồng cổ Dá Hai, khoảng năm 1969 - 1970, tuy còn ít tuổi nhưng hai ông đã thích theo đội tuồng Dá Hai Thông Huề biểu diễn ở phố Thông Huề và đi diễn ở nhiều nơi như Nguyên Bình, Nà Giàng (Hà Quảng) với phương tiện là xe ngựa. Dần dần, niềm đam mê Dá Hai ngấm vào hai ông như máu thịt, ban đầu với vai trò là diễn viên, về sau khi một số diễn viên tuổi cao không đi diễn được thì hai ông thay việc kéo nhị và chính thức thay thế lớp diễn viên cao tuổi từ năm 1971 - 1972 với vai trò khi là diễn viên, khi kéo nhị. Trong biểu diễn tuồng Dá Hai, nếu như chất giọng, dáng điệu, cử chỉ, những lời ca da diết là cái quan trọng và cốt lõi thì những đạo cụ như đàn nhị, trống là chất liệu làm nền, song đàn nhị vô cùng quan trọng và không thể thiếu được, nếu không có đàn nhị thì Dá Hai không còn là Dá Hai nữa; có thể nói đàn nhị là linh hồn của Dá Hai. Với 10 làn điệu như: Phìn tiẻo, Cao tiẻo, Sái vá (mang tính chất vui vẻ); Thán tiẻo, Slí tiẻo thể hiện thương cảm, tâm tình…, tùy theo nội dung mà người hát chuyển từ điệu này sang điệu kia lúc thì vút lên cao bay bổng, lúc trầm xuống sâu lắng, lúc tự sự… tạo sự uyển chuyển, sâu lắng, lột tả được nội dung của bài hát.

Với hai ông, đó là những năm tháng tươi đẹp và hạnh phúc của người diễn viên, bởi từ những năm 1980, do nhiều nguyên nhân tuồng Dá Hai trầm lắng dần, đội tuồng hầu như không còn hoạt động và Dá Hai dần mai một. Đến năm 2000, tuồng Dá Hai mới bắt đầu dấu hiệu khôi phục lại khi ông cùng các diễn viên ở Thông Huề được đi diễn ở Hội diễn nông dân các tỉnh phía Bắc tại tỉnh Vĩnh Phúc. Cùng năm, đội tuồng được ra Thành phố diễn vở "Hoa Mộc Lan tòng quân" phục vụ tổng kết một đề tài nghiên cứu về Dá Hai. Sau nhiều năm vắng bóng, lần đầu tiên một vở tuồng được biểu diễn trọn vẹn trên sân khấu đã khiến cho hai ông cũng như các diễn viên vô cùng xúc động. Những cung bậc cảm xúc, tâm trạng của nhân vật được các diễn viên hóa thân, thăng hoa trên sân khấu. Đó là kỷ niệm mà hai ông không bao giờ quên được.

Để thỏa niềm đam mê và đỡ nhớ các làn điệu Dá Hai, hai nghệ nhân nhiệt tình truyền dạy hát Dá Hai cho con em ở khu vực Thông Huề với trên 20 học viên. Riêng về kéo nhị, đối với hai nghệ nhân thì đây là nỗi trăn trở nhất, bởi nó không có bài bản mà người kéo chỉ bằng năng khiếu bẩm sinh và kinh nghiệm tích lũy được, chính vì lẽ đó mà hiện nay hai ông chưa tìm được người kế cận để truyền dạy, duy trì loại hình này. Từ năm 2020, tỉnh triển khai Đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh "Bảo tồn, phục dựng di sản văn hóa Dá Hai Thông Huề, xã Đoài Dương, huyện Trùng Khánh", hai nghệ nhân hy vọng những giá trị tinh túy của Dá Hai Thông Huề sẽ được gìn giữ trọn vẹn và khôi phục.

Với tình yêu bền bỉ, say mê vẫn đang nồng cháy, các nghệ nhân tài hoa miệt mài như những "con tằm nhả tơ" trao truyền, phát huy giá trị di sản văn hóa. Mùa xuân đã đến trên vùng non nước Cao Bằng, xin chúc các Nghệ nhân Ưu tú tiếp tục có những cống hiến cho quê hương để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu này.

 

Xuân Thương

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh