Bạn đang xem: Trang chủ » Ký - Phóng sự

Chuyện bây giờ mới kể

Thứ năm 07/04/2022 05:00

Một lần, tôi tình cờ nghe các cựu chiến binh tình nguyện Việt - Lào kể về lần thoát hiểm ngoạn mục của cựu chiến binh Phan Văn Lại (sinh năm 1947), dân tộc Tày, ở xã Đình Phong (Trùng Khánh). Tôi tìm đến nhà riêng của ông, ngôi nhà hai tầng tọa lạc ngay ngã ba thị trấn Trùng Khánh rẽ sang Trà Lĩnh. Ông có dáng người vừa phải, nước da xanh (đang bị nhiễm trùng do hai lần mổ túi mật), thần sắc trông khá mệt mỏi. “Một con người như vậy nhưng thật dũng cảm, quyết đoán tấn công khi bị sa bẫy kẻ địch”.

Ông Phan Văn Lại (ngoài cùng bên trái) cùng các đồng chí từng chiến đấu và công tác tại Lào. Ảnh: Minh Trang

Trong nhà treo những bức ảnh chân dung của ông, những bức ảnh chụp cùng đồng đội, Bằng chứng nhận huân, huy chương. Tôi đặc biệt chú ý tấm huân chương của Chính phủ Lào tặng thưởng cho ông trong thời gian làm chuyên gia quân sự ở nước Lào thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.

Biết tôi tìm đến lấy tư liệu viết về mình, ông tỏ ra ngại ngùng, bởi lẽ những người lính trong cuộc chiến nào cũng vậy, họ chỉ nghĩ đến hoàn thành nhiệm vụ, chiến thắng kẻ thù chứ không nghĩ đến thành tích. Rồi ông hướng cặp mắt đăm chiêu ra xa và chậm rãi kể: Ngày 4/7/1966, tôi nhập ngũ, sau khóa huấn luyện, Đội đặc nhiệm tại Binh trạm 41, F473 Trường Sơn, Tiểu đoàn trưởng Bộ binh Binh trạm 41, F473 chọn ra 5 chiến sĩ huấn luyện xuất sắc nhất gồm: Chuẩn úy Kiều Văn Khuê, Đội trưởng Đội Đặc nhiệm; Thượng sĩ Phan Văn Lại, Đội phó phụ trách tổ Đảng; các Trung sĩ Nguyễn Văn Thanh, Bùi Văn Tuyết, Trần Văn Thuận biệt phái sang nước bạn Lào vừa đánh địch vừa củng cố xây dựng lực lượng, xây dựng chính quyền cách mạng, tại Chi khu 2 Chi khu Quân sự Đồng Hén, huyện Kèng Coọc, tỉnh Savanakhet (Lào).

Đội đặc nhiệm được trang bị quân tư trang gọn nhẹ, mỗi người một khẩu AK, một cơ số đạn… Chuẩn úy Khuê dẫn đầu, Lại đi khóa đuôi, cứ thế cả đội luồn rừng khu vực Hướng Hóa (Quảng Trị), căn tọa độ, vượt qua bên kia dãy Trường Sơn. Năm chiến sĩ lặng lẽ đi trong đêm, 8 giờ sáng hôm sau, cả đội tập kết tại Chi khu 2 Đồng Hén. Đó là bản Hoàng Hạnh của người Lào Lum, nơi đây là vùng địch hậu, ta kiểm soát, địch thường đến tập kích.

“Các đồng chí tranh thủ nghỉ một lúc, rồi chúng ta sẽ triển khai nhiệm vụ”. Chuẩn úy Khuê nói.

Cả đội khẩn trương mắc võng dưới cột nhà sàn của dân. Cả bản đã đi làm nương rẫy, chỉ còn người già, trẻ con ở nhà. Sau đêm dài hành quân luồn rừng, vượt núi, các chiến sĩ chìm vào giấc ngủ nhanh chóng. Đến 8h30’đồng chí Khuê tỉnh giấc, đúng lúc đó có một tốp 7 người mặc quân phục quân giải phóng, đội mũ tai bèo, khoác AK đến chỗ đội đặc nhiệm đang nghỉ.

Đồng chí Khuê bật dậy hỏi: “Các đồng chí ở đơn vị nào?”

Một người dáng cao, nước da nâu, mũ tai bèo sụp kín mắt, giọng vui vẻ: “Chúng tôi là quân chủ lực miền xuống tăng cường cho các đồng chí”.

Ngay lúc đó, tên này cùng một tên đứng sát hắn, dí khẩu AK vào người đồng chí Khuê, chúng dùng khóa số 8 còng tay Khuê lại. Lại mắc võng cạnh đồng chí Khuê bật dậy cũng bị hai tên lính khống chế và bị khóa số 8. 3 chiến sĩ Thanh, Tuyết, Thuận cũng vùng dậy lấy vũ khí bị những tên còn lại chĩa súng vào người, sẵn sàng nhả đạn.

“Giờ chúng tôi khát nước, 3 ông này xuống suối dưới kia lấy nước về cho chúng tôi uống đi” - Gã đội mũ tai bèo sụp kín mắt nói.

Các đồng chí Thanh, Tuyết, Thuận tay bị trói chặt, 3 tên thúc AK vào người, bắt đi xuống dòng suối nhỏ gần đó. Đến bên bờ suối, bọn chúng nổ súng sát hại luôn 3 chiến sĩ. Bọn chúng trở lại bắt đầu tra tấn Đội trưởng Khuê rất dã man nhưng anh không hé răng khai nửa lời. Chứng kiến bọn giả danh bộ đội giải phóng bức hại đồng đội, bản thân hai tay Lại bị khóa còng số 8, bị tra tấn dã man, chúng dùng gậy, dùng AK quật vào người, khắp người Lại đầy vết thương, máu dính vào quần áo loang lổ, nhức buốt tận óc. Anh chợt nhớ ra, tên lính dáng cao, giọng nói quen quen, hình như anh đã gặp hắn!

“Mày đang nghĩ gì thế thằng kia? Mày có nhớ tao không?”. Hắn lật mũ tai bèo lên. “Thôi chết, nó là thằng H. quê Hà Tây, lính Binh trạm 41 cùng mình đây mà”. Lại giật mình nhận ra hắn, sau đó đưa mắt sang bên nhìn Khuê, Khuê khẽ gật đầu đã nhận ra tên phản bội, hắn chính là đồng hương Hà Tây với Khuê. Tên H. đến bên Lại vỗ vai anh: “Nếu mày không theo quân giải phóng, sang chiêu hồi với tao thì mỗi ngày mày có 75 kip để tiêu, có gái đẹp theo hầu. Còn nếu mày không theo tao, chiều nay 5h30’ máy bay lên thẳng sẽ đến đưa chúng mày đi tử hình, từ giờ đến chiều chúng mày suy nghĩ kỹ đi”.

Lại ngẫm nghĩ: Mình chỉ còn 1/100 được sống, mình chỉ có hai người đều bị còng tay, không vũ khí, chúng nó 7 tên, có vũ khí đầy đủ… Lát sau, Lại ngước khuôn mặt sưng vù, loang lổ vệt máu lên gật đầu: “Thôi được, tao nhất trí theo mày, nhưng mày mở khóa số 8 cho tao, rồi xoa bóp cồn cho tao với, tao chảy máu nhiều đau lắm”.

Nhưng tên H. rất cảnh giác: “Mày chịu khó chịu đựng đi, 5 rưỡi chiều nay máy bay đến đưa mày vào bệnh viện chữa trị”.  Tên H. vừa nói vừa đến cạnh đồng chí Khuê ngồi, anh bị tra tấn đến mức không thể ngồi được.  

Vào hồi 5h15’, những tên giả danh bộ đội khác lân la vào trong bản để do thám tình hình, Lại tỏ ra mệt mỏi: “Từ hôm qua đến giờ, tao chưa được uống ngụm nước nào, tao khát lắm rồi”. Tên H. ngồi bên cạnh Lại bảo tên lính gác ngồi ở phía đối diện đang chĩa khẩu AK vào chân anh: “Mày lấy bi đông này xuống suối lấy nước lên đây cùng nhau uống”. Lát sau, tên lính lấy bi đông nước về, tên H. uống liền mấy ngụm rồi đưa cho Lại uống. Anh liếc đồng hồ trên tay tên H. 5h20’ chiều. Anh ngửa cổ uống một ngụm nước, đột nhiên anh vùng dậy, dùng bi đông nước đập một nhát thật mạnh vào trán tên lính cầm AK, máu từ vết thương hắn chảy xối xả, hắn lập tức gục xuống.

Tên H. vội lao vào ôm chặt Lại, nhưng rất nhanh anh lùi về đằng sau, vớ ngay khẩu AK của tên lính bị thương, chĩa vào ngực tên H. lảy cò trúng ngực hắn. Hắn gục chết tại chỗ. Rất may khẩu súng khi đó chỉ còn đúng một viên đạn đã lên nòng, vì Lại bị khóa số 8 nên không thể kéo cò súng để nạp đạn. “Trốn nhanh đi đồng chí Khuê”. Lại giục. Nhưng Khuê khẽ lắc đầu nói: “Cậu đi đi”. “Tôi sẽ cùng cậu trốn”. “Không… cậu đi nhanh đi”.

Ngay lúc đó, bọn giả danh nghe tiếng súng nổ nên la hét chạy về. Không kịp nghĩ gì, Lại lập tức bỏ trốn vào rừng. Không thấy anh, chỉ thấy 2 tên đồng bọn đang nằm gục dưới đất và một tên Việt cộng nằm thoi thóp. “Một tên Việt cộng thoát rồi… đuổi theo nó mau”. Chúng vừa hô, vừa đuổi, nổ súng loạn cả lên.

Mặt trời đã khuất từ lâu, bóng đêm dần quây chặt cánh rừng thâm u, rậm rạp, bọn chúng chỉ truy đuổi Lại khoảng gần cây số rồi quay về. Cùng lúc đó, Lại nghe tiếng máy bay lên thẳng đỗ xuống nơi anh bị bắt. Lúc này, Lại mới thấy khắp cơ thể đau nhức, bụng anh hai ngày nay chưa được ăn gì ngoài ngụm nước uống vội trước khi anh tìm cách thoát thân. Rừng rậm rạp, dây dợ chằng chịt, trời tối đen, Lại thập thững bước, chợt anh phát hiện có một thân cây cổ thụ, anh rờ rẫm thân cây thấy đó là một cây rỗng bèn chui vào bên trong, chỗ lồi, chỗ lõm. “Xoét”, ồ có nước, Lại vui sướng khỏa tay xuống, ngay trong gốc cây rỗng có một vũng nước. Lại cúi người thỏa thuê uống những ngụm nước mát lạnh. Anh thấy mình khỏe lên rất nhiều. Vậy là 1/100 được sống đã thuộc về anh. Tuy vậy, Lại khá chật vật khi leo lên thân cây để nghỉ vì chiếc còng số 8 vướng víu. Bụng đói cồn cào, Lại hái lá cây, cứ thế nhai rồi nuốt, mặc kệ vị đắng, chua, chát… không ăn thì không thể đi tiếp.

Trời đã khuya lắm, có tiếng gà gáy te te phía xa, Lại thiếp đi lúc nào không hay. Khi anh tỉnh giấc, trời đã hửng sáng. Lại tụt xuống gốc cây, cố xác định phương hướng, anh đi mãi khoảng 3 giờ chiều đến một đồng cỏ rộng. Anh gặp một cụ già người Lào nhỏ nhắn đang chăn trâu, anh hỏi: “Bà ơi, đường về Kèng Coọc đi hướng nào?”. Bà cụ chăm chú nhìn Lại, thấy anh bị thương, bị khóa tay, bà đoán anh là bộ đội nên đến bên anh nói nhỏ: “Cháu đi hướng mặt trời mọc tối mai sẽ đến”.

Anh cảm ơn bà rồi vội vã đi theo hướng mặt trời mọc, đi mãi đến gần nửa đêm, anh nhận ra đây là vùng đội đặc nhiệm của anh hoạt động. Lúc này bọn địch đã rút đi hết. Cả bản đang ngủ say, tiểu đoàn đặc nhiệm đang ngủ rải rác trong những chiếc võng mắc dưới gầm nhà sàn của dân. Anh đi chân đất, những vệt máu thâm sì loang lổ trên bộ quần áo quân phục. Anh gõ vào cột nhà mấy tiếng ra hiệu. Tiểu đoàn trưởng là Thượng úy Đặc nhiệm Lê Hữu Tựu từ trong nhà sàn xuống hỏi: “Ai?”. “Phan Văn Lại đây”. “Đi đâu về khuya thế?”. Tiểu đoàn trưởng Tựu nhìn quần áo Lại loang vết máu, tay bị còng số 8, anh gọi một chiến sĩ lấy cưa về cưa còng số 8 ra cho Lại.

Ngay sau đó, Lại báo cáo tình tiết sự việc. Ngay lập tức, Tiểu đoàn trưởng Tựu tập hợp hai đại đội, truy kích khu vực đội đặc nhiệm của Lại hoạt động. Họ đau xót phát hiện xác 3 chiến sĩ bị bọn địch sát hại vẫn nằm bên bờ suối!

Từ ngày bị địch bắt trở về, mỗi tuần hai lần Lại phải viết bản tự kiểm điểm tường trình lại sự việc, đây là yêu cầu của cấp trên, anh nghiêm túc chấp hành ròng rã gần 3 năm liền. Đồng thời, cấp trên thử thách anh bằng cách cho anh trực tiếp chỉ huy, xây dựng một đại đội Pa-thét Lào. Anh vừa huấn luyện quân, vừa củng cố xây dựng lực lượng. Đúng lúc đó, địch dùng một tiểu đoàn đánh vào căn cứ ta ở Đông Hén, huyện Kèng Coọc, Lại chỉ huy đại đội đánh tan tiểu đoàn quân địch.

Cùng thời điểm đó, Trung tá Phạm Ngọc Sơn, nguyên trợ lý Trung đoàn đang làm nhiệm vụ đặc biệt, từ bên kia chiến tuyến báo về: Địch báo cáo về Trung tâm chỉ huy của chúng: Tên Việt cộng bị bắt tên là Phan Văn Lại người Cao Bằng, nó cướp súng và đã bắn chết thằng chiêu hồi, đánh bị thương nặng thằng bảo vệ… và nó đã trốn thoát.

Sau những biến cố bị rơi vào tay địch, rồi tự mình giải thoát, Lại từng bước chứng minh mình là một chiến sĩ cộng sản kiên cường, không lùi bước trước bất kể tình huống khó khăn, trở ngại nào. Về Chuẩn úy Khuê, sau này Lại mới biết Khuê bị bọn địch giết hại.

“Tôi cho chị xem cái này”. Vừa nói, ông Lại vừa đến bên chiếc tủ lấy ra một túi vải nhỏ đưa cho tôi. Tôi mở túi lấy ra một nửa chiếc còng số 8. Cầm nửa chiếc còng sắt lạnh lẽo, tôi xúc động nói: “Vậy còn một nửa chiếc nữa đâu ạ?”. “Một nửa chiếc còng này hiện được trưng bày ở Bảo tàng Quân khu IV”. Cựu chiến binh Lại mỉm cười.

Năm 1976, Lại được phục viên. Nhưng rồi chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra, Lại tiếp tục tái ngũ ở huyện Trùng Khánh, trực tiếp chỉ huy một đại đội chặn đánh địch tại Khau Chỉa. Năm 1981, Thiếu tá, Chính trị viên Ban Chỉ huy Quân sự huyện Trùng Khánh Phan Văn Lại trở về với đời thường. Ban Liên lạc Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam giúp cách mạng Lào do Đại tá Phạm Ngọc Sơn, quê thành phố Vinh (Nghệ An) làm nhiệm vụ đặc biệt ở bên kia chiến tuyến, cũng là người biết rõ vụ việc đồng chí Lại bị địch bắt và tự giải thoát. Hiện, đồng chí Sơn là Trưởng Ban liên lạc Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã đề nghị Chính phủ tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang cho đồng chí Phan Văn Lại, nguyên Tổ trưởng Tổ vũ trang chuyên gia quân sự Đoàn 565 có chiến công đặc biệt xuất sắc ở Nam Lào (1973 - 1976).

Hồ sơ xác nhận thành tích của đồng chí Lại được Chủ tịch UBND tỉnh ký Quyết định số 17/QĐ-UB ngày 8/1/2019. Sau khi hoàn chỉnh hồ sơ, đồng chí nộp cho Đại tá Chính ủy Đoàn 565, đồng chí Chính ủy giao cho Thiếu tướng Nguyễn Bá Tòng, nguyên Binh trạm trưởng Binh trạm 12 thụ lý, đề nghị Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho đồng chí Lại. Nhưng hiện tại, đồng chí Tòng đã qua đời, do vậy hồ sơ của đồng chí Lại vẫn chưa được giải quyết. Rất mong các cơ quan của tỉnh, Đoàn 565 và các cơ quan Trung ương sớm quan tâm. Hy vọng một ngày gần đây, Thiếu tá Phan Văn Lại sẽ vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Đoàn Ngọc Minh

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh