Bạn đang xem: Trang chủ » Hồ sơ - Tư liệu

Đại tướng Võ Nguyên Giáp với công tác tuyên truyền vận động nhân dân bằng tiếng dân tộc thiểu số

Thứ bảy 21/08/2021 05:00

Đại tướng Võ Nguyên Giáp - người học trò xuất sắc của lãnh tụ Hồ Chí Minh, người chiến sĩ cách mạng kiên trung, vị tổng Tư lệnh tối cao, Anh Cả của các lực lương vũ trang cách mạng Việt Nam; nhà quân sự thiên tài, nhà văn hóa lớn, nhà báo lớn, nhà lãnh đạo mẫu mực và có uy tín, văn võ song toàn, xứng đáng với mười chữ vàng mà Giáo sư Vũ Khiêu đề tặng: "Võ công truyền quốc sử/Văn đức quán nhân tâm".

Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25/8/1911 tại xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình trong một gia đình nhà Nho nghèo yêu nước. Từ những ngày ấu thơ, bằng con đường học tập để tích lũy kiến thức, tiếp thu tinh hoa văn hóa Đông - Tây, trở thành nhà trí thức yêu nước, tự giác dấn thân vào hoạt động cách mạng từ năm 15 tuổi cho đến khi trở thành người học trò tin cẩn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.

Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã tin tưởng giao trọng trách nặng nề cho Võ Nguyên Giáp là xây dựng và chỉ huy một đội quân cách mạng "từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu". Đội quân đó lớn mạnh từng ngày, đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, thống nhất đất nước.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trở lại thăm nhân dân Pác Bó (Hà Quảng) năm 1994. Ảnh:T.L.

Tại lán Khuổi Nặm (Pác Bó, Hà Quảng, Cao Bằng), từ ngày 10 - 19/5/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng. Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất mang tên Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh). Hội nghị nhận định: "Nhiệm vụ cấp bách nhất được đặt ra lúc này là làm thế nào huy động mọi lực lượng để cứu nước giải phóng dân tộc... Muốn thế phải đoàn kết toàn dân, tập hợp các đoàn thể, Hội cứu quốc, các tầng lớp nhân dân...".

Để thực hiện công tác tuyên truyền giác ngộ quần chúng tham gia Mặt trận Việt Minh, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trương đào tạo đội ngũ cán bộ cốt cán và cử đi gây dựng cơ sở cách mạng, thành lập các Ban Tây tiến, Nam tiến. Võ Nguyên Giáp cùng Lê Thiết Hùng được phân công phụ trách Ban Nam tiến, tiến xuống phía Nam, từ Nguyên Bình qua Ngân Sơn, Chợ Rã để nối liền với Chợ Chu, Đại Từ (Thái Nguyên) và căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai của Cứu quốc quân.

Thực hiện chỉ dẫn của Người, cán bộ tuyên truyền Việt Minh bám sát cơ sở để hòa vào cuộc sống của đồng bào các dân tộc. Tuyên truyền giác ngộ quần chúng là quá trình đi sâu, nắm chắc tư tưởng, tình cảm, đời sống và nguyện vọng của nhân dân, vừa là quá trình kiểm nghiệm và điều chỉnh chính sách của Đảng và Mặt trận Việt Minh, vừa là dịp tập dượt công tác vận động quần chúng của người cán bộ Việt Minh. Tháng 12/1941, Võ Nguyên Giáp đến vùng Tam Lọng - Kim Mã trực tiếp mở 3 lớp huấn luyện cán bộ cách mạng.

Qua các lớp huấn luyện, các hội viên được học tôn chỉ, mục đích, chủ trương, chính sách của Mặt trận Việt Minh. Sau đó nhiều lớp huấn luyện được mở ở nhiều địa phương tại Nguyên Bình tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào Việt Minh phát triển rộng khắp toàn châu. Tại đây, Võ Nguyên Giáp đã gặp người thanh niên dân tộc Dao Bàn Tài Tuyên đầy nhiệt huyết yêu nước, căm thù giặc và có năng khiếu làm thơ. Võ Nguyên Giáp đã đặt bí danh cho Bàn Tài Tuyên là Đoàn Kết (Bàn Tài Đoàn) và bày cách viết thơ bằng tiếng Dao lên lá chuối để tuyên truyền vận động bà con dân tộc Dao tham gia Mặt trận Việt Minh.

Trong cuộc Hội thảo "Bác Hồ với nhân dân các dân tộc Cao Bằng" tại Cao Bằng năm 1995, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có nêu: "Lúc đi làm công tác quần chúng, bản thân tôi biết tiếng Tày... Lúc bấy giờ tôi cũng biết nói cả tiếng Mông, tiếng Dao. Cho nên cuốn Ngũ tự kinh, các bài thơ của Bác cũng được tôi dịch ra 3 -  4 thứ tiếng, các em vừa giã gạo, vừa đi lấy nước vừa hát, đi đến đâu cũng hát, hình thức tuyên truyền phổ biến là như vậy".

Xuất thân từ một trí thức, rất giỏi tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Trung, song vì hòa mình với người lao động dân tộc thiểu số, sống đồng cam cộng khổ với đồng bào, Võ Nguyên Giáp tự học thông thạo nhiều thứ tiếng như Tày, Nùng, Mông, Dao... và đã có được thành công lớn trong tuyên truyền, vận động và huấn luyện quần chúng tham gia Mặt trận Việt Minh, xây dựng thành công khu căn cứ cách mạng đầu tiên, đứng chân vững chắc trên địa bàn 3 tỉnh: Cao - Bắc - Lạng. Sau này Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói: "Quê hương thứ hai của tôi là Cao Bằng". Và chính quê hương Cao Bằng, cho đến bây giờ bà con các dân tộc vẫn coi Anh Văn (Võ Nguyên Giáp) như người anh, người cha, người ông trong mỗi gia đình.

Không chỉ bày cách cho cán bộ tuyên truyền, chính bản thân Võ Nguyên Giáp đã tự sáng tác thơ bằng tiếng Mông để tuyên truyền và vận động đồng bào. Đặc biệt, Võ Nguyên Giáp tự dịch tập tài liệu “Việt Minh Ngũ tự kinh” ra tiếng Tày, tiếng Mông và tiếng Dao để tuyên truyền, vận động đồng bào tham gia Mặt trận Việt Minh đạt hiệu quả cao. Tám câu mở đầu bài Việt Minh Ngũ tự kinh viết: Nước ta bị Tây cướp/Đã bảy tám mươi năm/Chúng đè nén giam cầm/Bắt ta làm nô lệ./Chúng đặt trăm thứ thuế/Bóc lột ta đến xương/Chúng vơ vét bạc vàng/Còn bắt phu bắt lính.

Qua bao năm sống với đồng bào Tày, cùng những cán bộ Việt Minh công tác vận động quần chúng tham gia cách mạng, Võ Nguyên Giáp đã học được rất nhiều tiếng Tày đến mức thuần thục nên dịch rất sát, chuẩn: "Nước slà mẻn Tây cháp/Quá chất pét slip pi/Dân slà mẻn cáp náp/Quyền tua cần, bấu mì/Mền tặt pác thình thuế/Mền lọt lẳm kim ngần/Đin hây mẻn phó slé/Mền poóc lọt tấng cần.". Đối với một người dân tộc Kinh, việc dịch nghĩa từ tiếng Kinh ra tiếng Tày đã khó, nhưng Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn dịch ra thành thơ Tày. Đó là điều có mấy ai làm được.     

Đoạn tiếp, Võ Nguyên Giáp dịch thành thơ có sự sáng tạo đến mức tối đa nhằm bóc mẽ tội ác của thực dân, đế quốc: "Pi pi mền pắt phu/Dân slà pền cần khỏi/Nàn ỷ lẻ mẻn tù/Ngày lai cũng pền tội/Cần slèng mẻn pắt lính/Thoóc slửa khóa pền lương/Súng theéc nằn động đính/Bắn pỉ noọng bản mường.". (Năm nào cũng bắt phu/Dân ta thành nô lệ/Muộn một tí bị tù/Thật thà cũng thành tội/Người khỏe bị bắt lính/Thay quần áo màu vàng/Súng nổ vang ầm ĩ/Bắn anh em bản mường).     
Năm 1989, sau hơn 40 năm xa cách đồng bào các dân tộc ở chiến khu xưa, nay mới có dịp trở lại thăm xã Tam Kim (Nguyên Bình), khi vừa bước xuống xe, trước đông đảo đồng bào các dân tộc vui mừng chào đón, Đại tướng nói câu đầu tiên bằng tiếng Tày: “Bại pỉ noọng mì rèng bấu”! Rất đặc sắc, mang đậm chất văn hóa giao tiếp đầy tình thân của người Tày.

Không chỉ dịch Việt Minh Ngũ tự kinh ra tiếng Tày, Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn dịch ra cả tiếng Mông và tiếng Dao. Phần tiếng Dao, tác giả dịch "Việt Minh pja giảng sâu". Tám câu mở đầu bài được Võ Nguyên Giáp dịch là: "Pua nước chụ Phan kíp/Phan nhặn pua tháo buúng/Nàn mái pua pua lhuúng/Mái pua pua cói điang/Xchồng pát phu pát lếnh/Quát liu pua nhoàn kiêm/Pun txuất chây tài miền/Chấu Pun pua phì kẹt".

Trong thời gian hoạt động cách mạng hơn 5 năm trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đi sâu đi sát, đồng cam cộng khổ với đồng bào các dân tộc ít người, hiểu sâu tâm tư nguyện vọng của nhân dân, từ đó vận động nhân dân các dân tộc Tày, Nùng, Mông, Dao tham gia các Hội cứu quốc. Nhân dân tin tưởng Anh Văn, quý mến Anh Văn mà một lòng đi theo cách mạng.

Thực hiện Chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, vào hồi 17 giờ ngày 22/12/1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo, xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã chủ trì buổi lễ thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng ngày nay. Đội gồm 34 chiến sĩ là những con em ưu tú nhất, dũng cảm nhất trong các lực lượng vũ trang Cao - Bắc - Lạng với lời thề vang vọng núi rừng quyết tâm chiến đấu cho đến ngày thắng lợi.

Mông Văn Bốn

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh