Bạn đang xem: Trang chủ » Hồ sơ - Tư liệu

Chiến thắng Điện Biên Phủ biểu tượng của tinh thần Việt Nam

Thứ bảy 07/05/2022 05:00

Cách đây 68 năm, ngày 7/5/1954, quân và dân ta làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Thời gian đã trôi qua nhưng âm hưởng, ý nghĩa và bài học lịch sử của chiến thắng ấy vẫn còn vang vọng mãi, là động lực và tiếp thêm sức mạnh cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trên con đường đổi mới, hội nhập và phát triển.

Chiều 7/5/1954, lá cờ "Quyết chiến - Quyết thắng" của Quân đội nhân dân Việt Nam tung bay trên nóc hầm tướng De Castries. Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ đã toàn thắng. Ảnh: T.L


Ngược dòng thời gian về năm 1953, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam bước sang năm thứ tám, lúc này lực lượng quân Pháp trên chiến trường Đông Dương bị suy yếu rõ rệt: gần 390.000 tên bị loại khỏi vòng chiến đấu; vùng tạm chiến ngày càng bị thu hẹp; mâu thuẫn giữa việc tập trung và phân tán lực lượng ngày càng rõ rệt. Trong khi đó, phong trào phản đối chiến tranh của nhân dân Pháp lên cao, nền kinh tế Pháp bị suy yếu... Tuy nhiên, do không muốn buông bỏ Đông Dương, thực dân Pháp tiếp tục dựa vào sự giúp đỡ của Mỹ, quyết tâm thực hiện một thắng lợi quân sự làm cơ sở cho một giải pháp chính trị có “danh dự”.

Ngày 7/5/1953, Chính phủ Pháp cử tướng Nava (Henri Navarre) sang làm Tổng chỉ huy thứ bảy của đội quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Nava vạch ra một kế hoạch quân sự dựa trên sự nỗ lực cao nhất của Chính phủ Pháp và sự viện trợ lớn nhất của Mỹ, với một đội quân cơ động mạnh nhất và phương tiện chiến tranh nhiều nhất, gọi là kế hoạch Nava. Để thực hiện kế hoạch Nava, Pháp quyết định rút 12 tiểu đoàn quân Pháp từ trong nước, Bắc phi và Triều Tiên tăng viện trợ cho Đông Dương, đưa tổng số quân Pháp trên chiến trường Đông Dương đạt 84 tiểu đoàn, đồng thời Pháp tích cực bắt lính. Sau khi được bổ sung lực lượng, quân đội Pháp tiến hành nhiều cuộc hành quân càn quét, gây cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta nhiều khó khăn.

Trước tình hình đó, chủ trương quân sự của Trung ương Đảng trong Đông - Xuân 1953 - 1954 là: Ra sức tăng cường chiến tranh du kích trên toàn bộ chiến trường vùng sau lưng địch để phân tán chủ lực của chúng và phá âm mưu chúng tập trung lực lượng ra Bắc Bộ. Bộ đội chủ lực tập trung tích cực nhằm tiêu diệt sinh lực địch và tranh thủ giải phóng đất đai ở những vùng quan trọng mà địch tương đối yếu. Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, từ tháng 11/1953 Quân đội nhân dân Việt Nam phối hợp chặt chẽ với các lực lượng vũ trang cách mạng Lào liên tiếp mở các cuộc tấn công trên các hướng chiến lược trên chiến trường Đông Dương: Tây Bắc, Trung Lào, Tây Nguyên, Thượng Lào. Để đối phó với ta, thực dân Pháp phải bị động phân tán binh lực ra 5 nơi là Tây Bắc, Trung Lào, Tây Nguyên, Thượng Lào, đồng bằng Bắc Bộ. Kế hoạch Nava bước đầu bị phá sản.

Khi phát hiện quân đội ta tiến lên Tây Bắc, ngày 20/11/1953 Nava vội vàng thực hiện cuộc hành binh Hải Ly cho quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, rồi tiếp tục tăng quân, vũ khí để xây dựng thành một tập đoàn cứ điểm quy mô lớn. Đến đầu tháng 3/1954, lực lượng quân Pháp ở Điện Biên Phủ lên tới 16.200 tên, 49 cứ điểm, 3 phân khu với những loại vũ khí hiện đại, 2 sân bay, các trận địa pháo… Thực dân Pháp coi Điện Biên Phủ là “pháo đài bất khả xâm phạm”, điểm quyết chiến chiến lược có thể đưa lại thắng lợi chiến lược cho cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh có lợi cho Pháp.

Tháng 12/1953, Trung ương Đảng chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954. Chiến dịch Điện Biên Phủ được Trung ương Đảng xác định có ý nghĩa quân sự, chính trị, ngoại giao hết sức quan trọng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp được cử làm Bí thư Đảng ủy và Tư lệnh chiến dịch. Sau khi xem xét, phân tích kỹ các yếu tố, tương quan so sánh lực lượng đôi bên, đặc biệt thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là phải đảm bảo chắc thắng 100%, Đảng ủy và Bộ Chỉ huy Chiến dịch, đứng đầu là Đại tướng Võ Nguyên Giáp quyết định chuyển phương châm tác chiến từ “Đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “Đánh chắc, tiến chắc” ngay trước giờ mở màn chiến dịch. Đây là một quyết định sáng suốt, thể hiện tài thao lược quân sự, phù hợp với thực tế diễn biến chiến dịch và chính là một trong những yếu tố mang tính quyết định đến thắng lợi cuối cùng.

Thực hiện quyết tâm đó, quân, dân Việt Nam gấp rút chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch Điện Biên Phủ theo tinh thần: “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”. Ta huy động 5 đại đoàn chủ lực bao vây tiến công địch và 26 vạn dân công liên tục phục vụ mặt trận. Ngày 13/3/1954, Quân đội nhân dân Việt Nam bắt đầu nổ súng tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Trải qua “năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt; máu trộn bùn non; gan không núng; chí không mòn”, ngày 7/5/1954, lá cờ “quyết chiến quyết thắng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trao cho Quân đội nhân dân Việt Nam hiên ngang tung bay trên nóc hầm Đờ Ca-xtơ-ri, quân và dân ta làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Đây là một trong những đỉnh cao chói lọi, kỳ tích vẻ vang trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm, xứng đáng được ghi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa trong thời đại Hồ Chí Minh. Đó là thắng lợi của khát vọng hòa bình, độc lập, tự do, của ý chí tự lực, tự cường của dân tộc Việt Nam; thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc, dân chủ nhân dân trên thế giới và của lương tri thời đại. Chiến thắng Điện Biên Phủ giáng đòn quyết định, đập tan dã tâm xâm lược của các thế lực đế quốc, thực dân hiếu chiến, buộc Chính phủ Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương, mở ra trang mới cho cách mạng Việt Nam; đồng thời là một sự kiện quan trọng báo hiệu sự sụp đổ hoàn toàn của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ mang tầm vóc thời đại, có ý nghĩa to lớn, là sự kết tinh của nhiều nhân tố, trong đó, quan trọng nhất là sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; của chủ nghĩa yêu nước, tinh thần cách mạng, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam, của ý chí quyết chiến, quyết thắng và sức mạnh của Quân đội nhân dân, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Chiến thắng Điện Biên Phủ đồng thời là chiến thắng của tình đoàn kết chiến đấu bền chặt, thủy chung, son sắt giữa quân đội, nhân dân 3 nước Đông Dương và sự đoàn kết, giúp đỡ, ủng hộ của các nước anh em và bạn bè quốc tế. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ; chấm dứt hoàn toàn ách xâm lược của thực dân Pháp trên đất nước ta và các nước trên bán đảo Đông Dương; bảo vệ và phát triển thành quả cách mạng Tháng Tám năm 1945; mở ra giai đoạn cách mạng mới, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ làm tăng niềm tự hào dân tộc, niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện; cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân một lòng, một dạ chiến đấu dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Chiến thắng mang tầm vóc thời đại, góp phần to lớn vào phong trào đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ của nhân loại.

Chiến thắng Điện Biên Phủ giáng một đòn chí mạng vào nền móng của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, đánh sập thành lũy của chủ nghĩa thực dân cũ ở vị trí xung yếu nhất, đánh dấu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới; báo hiệu sự thất bại chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chủ nghĩa thực dân mới do đế quốc Mỹ cầm đầu. Chứng minh một chân lý của thời đại: Các dân tộc bị áp bức, bị xâm lược nếu có ý chí kiên cường và đường lối đúng đắn, sáng tạo, biết đoàn kết đấu tranh vì độc lập tự do thì dân tộc đó nhất định thắng lợi. Chân lý đó đã thôi thúc và cổ vũ các nước thuộc địa ở châu Á, châu Phi, Mỹ La-tinh đứng lên đấu tranh tự giải phóng, thoát khỏi ách xâm lược của chủ nghĩa thực dân, đế quốc.

Phát huy tinh thần tự lực, tự cường, quyết chiến, quyết thắng của chiến thắng Điện Biên Phủ, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nói chung và Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Cao Bằng nói riêng chủ động nắm bắt thời cơ, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, nêu cao lòng yêu nước, tinh thần độc lập, tự chủ, tự tôn dân tộc, tự lực, tự cường, không cam chịu nghèo nàn, lạc hậu, không trông chờ, ỷ lại, dám nghĩ dám làm. Quyết tâm xây dựng Cao Bằng ngày càng giàu đẹp, văn minh.       

Tùng Linh

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh