Bạn đang xem: Trang chủ » Chính trị

Mặt trận Việt Minh với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945

Thứ sáu 19/08/2022 05:00

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả của việc thực hiện chính sách đoàn kết toàn dân vì nhiệm vụ tối cao giải phóng dân tộc giành chính quyền. Mặt trận Việt Minh đã trở thành biểu tượng sáng ngời của khối đại đoàn kết toàn dân, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc năm 1945.

Đồng chí Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám tại lán Khuổi Nặm (Pác Bó).                Tranh: T.L

Nhận thấy sự chuyển biến của tình hình thế giới và trong nước có lợi cho cách mạng Việt Nam, ngày 28/1/1941, sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Để thực hiện thành công đường lối cứu nước, Người chủ trương xây dựng, củng cố Đảng vững mạnh, thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất rộng rãi, xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng căn cứ địa cách mạng, đào tạo cán bộ...

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc liên tiếp mở nhiều lớp huấn luyện cho cán bộ cách mạng tại Pác Bó, trực tiếp làm giảng viên huấn luyện về cách thức tổ chức các hội cứu quốc, giảng giải về chủ trương, mục đích, điều lệ của Mặt trận Việt Minh. Chỉ trong vòng 3 tháng, từ tháng 2 - 4/1941, phong trào Việt Minh đã lan rộng khắp 3 châu Hòa An, Hà Quảng, Nguyên Bình, thu hút tới 2.000 hội viên trong các tổ chức cứu quốc. Chủ trương xây dựng, phát triển các tổ chức cứu quốc của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đi sâu vào quần chúng các dân tộc Cao Bằng, thật sự trở thành một phong trào quần chúng sâu rộng và mạnh mẽ. Phong trào Việt Minh tại 3 châu thí điểm lan rộng và ngày càng lớn mạnh. Trước tình hình đó, tháng 4/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chỉ đạo các đồng chí Vũ Anh, Hoàng Văn Thụ và Tỉnh ủy Cao Bằng tổ chức Hội nghị Goọc Mu (tại Pác Bó, Hà Quảng) nhằm đánh giá công tác thí điểm Việt Minh, rút kinh nghiệm để chuẩn bị một bước phát động phong trào Việt Minh rộng rãi trong phạm vi cả nước.

Kết quả của công tác thí điểm Việt Minh ở Cao Bằng là cơ sở thực tiễn vững chắc khẳng định chủ trương của Trung ương Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập Mặt trận Việt Minh là đúng đắn, kịp thời, có tác dụng động viên, cổ vũ phong trào, thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển đi lên. Đó cũng là cơ sở vững chắc để Trung ương Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh tại Hội nghị Trung ương lần thứ tám, đánh dấu bước phát triển mới của cách mạng Việt Nam.

Với thành công lớn trong việc xây dựng thí điểm Mặt trận Việt Minh, từ ngày 10 - 19/5/1941, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng được triệu tập tại Pác Bó (Hà Quảng) do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì. Hội nghị nhận định: “Trong lúc này không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”. Xuất phát từ nhận định đó, Đảng ta quyết định “chiến thuật hiện tại của Đảng ta là phải vận dụng một phương pháp hiệu triệu hết sức thống thiết, làm sao đánh thức được tinh thần dân tộc xưa nay trong nhân dân… Vậy Mặt trận hiệu triệu của Đảng ta hiện nay ở Việt Nam là Việt Nam Độc lập đồng minh, hay nói tắt là Việt Minh”. Bởi vậy, theo đề nghị của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Mặt trận Việt Minh nhằm tập hợp và đoàn kết rộng rãi các giai cấp, các dân tộc, tôn giáo, các giới… vào thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng.

Ngày 19/5/1941, Mặt trận Việt Minh chính thức được thành lập. Nhiệm vụ và chủ trương của Việt Minh được nêu rõ trong bản tuyên ngôn: “Việt Minh chủ trương tập hợp hết thẩy mọi tinh thần độc lập chân chính của giống nòi, kết thành một khối cách mạng vô địch, đặng đập tan xiềng xích của Nhật - Pháp, quét sạch những mưu mô xảo trá của một nhóm việt gian phản quốc”. “Coi quyền lợi dân tộc cao hơn hết thẩy, Việt Minh sẵn sàng giơ tay đón tiếp những cá nhân hay đoàn thể, không cứ theo chủ nghĩa quốc tế hay quốc gia, miễn thành thực muốn đánh đuổi Nhật - Pháp để dựng nên một nước Việt Nam tự do và độc lập”. Để tập trung vào nhiệm vụ cứu nước, các tổ chức quần chúng yêu nước ở trong Việt Minh đều lấy tên là cứu quốc như: công nhân cứu quốc, nông dân cứu quốc, thanh niên cứu quốc, phụ nữ cứu quốc, quân nhân cứu quốc, phụ lão cứu quốc…

Tháng 10/1941, chương trình Việt Minh được công bố và phổ biến rộng trong các tầng lớp nhân dân yêu nước. Chương trình Việt Minh gồm có 10 chính sách về chính trị, kinh tế - xã hội, văn hóa nhằm thực hiện hai điều lớn: 1- Làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập; 2- Làm cho nhân dân Việt Nam được sung sướng, tự do. Mười chính sách của Việt Minh gồm những điểm chung cho toàn dân tộc và những điểm đấu tranh cho quyền lợi của mọi tầng lớp nhân dân. Vì thế mà Việt Minh được nhân dân nhiệt liệt hoan nghênh, ủng hộ.

Sau Hội nghị Trung ương lần thứ tám, phong trào Việt Minh tại Cao Bằng phát triển sâu rộng và mạnh mẽ hơn, nhanh chóng lan rộng ra khắp tỉnh. Từ Cao Bằng, phong trào Việt Minh bắt đầu tỏa rộng, ăn sâu, bám rễ sang khắp các tỉnh Việt Bắc rồi lan dần về xuôi. Trên cơ sở lực lượng chính trị, Việt Minh các cấp đã xây dựng lực lượng vũ trang, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, chuẩn bị sẵn sàng lực lượng để khởi nghĩa khi thời cơ đến. Nhờ có chủ trương dùng dân và sự lãnh đạo khéo léo của Đảng, Mặt trận Việt Minh đã phát huy được lực lượng của toàn dân để làm nên một cao trào cứu quốc mạnh mẽ, chuẩn bị cho cuộc vũ trang khởi nghĩa giành chính quyền.

Ngày 22/12/1944, lãnh tụ Hồ Chí Minh thay mặt Tổng bộ Việt Minh chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Những hoạt động của “đội quân đàn anh” có nhiệm vụ dìu dắt các đội vũ trang của các địa phương trưởng thành và phối hợp hành động theo phương châm “chính trị trọng hơn quân sự, dựa vào dân và động viên toàn dân kháng chiến” càng gây thêm thanh thế và ảnh hưởng của Việt Minh lan rộng khắp toàn dân và toàn quốc.

Từ cuối năm 1944 trở đi, nhất là từ ngày Nhật đảo chính Pháp (9/3/1945), phong trào Việt Minh phát triển rầm rộ ở khắp nơi trong toàn quốc. Ngày 25/3/1945, Việt Minh phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước trên khắp cả nước, Báo Cờ giải phóng số 11 (ngày 25/3/1945) đăng lời hiệu triệu của các đoàn thể cứu quốc trong Việt Minh, phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước. Lời hiệu triệu nêu rõ cần lãnh đạo, hướng dẫn quần chúng nhân dân chuyển qua các hình thức đấu tranh cao như: biểu tình chính trị, tiến hành thị uy võ trang, mít tinh công khai giữa đình hay giữa chợ... từ đó, nhiều nơi quần chúng thợ thuyền tự động bãi công, học sinh bãi khóa...

Ngày 14/8/1945, Tổng bộ Việt Minh ra lời hiệu triệu quốc dân đồng bào. Quốc dân Đại hội Tân Trào do Việt Minh triệu tập họp ngày 16 và 17/8/1945 đã nhiệt liệt tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa, thông qua Lệnh khởi nghĩa và 10 chính sách lớn của Việt Minh, quyết định quốc kỳ, quốc ca, cử Ủy ban Giải phóng lâm thời, tức Chính phủ lâm thời do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tinh thần “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, chỉ trong vòng 2 tuần lễ, toàn dân đã tiến hành thắng lợi cuộc Tổng khởi nghĩa lật đổ sự thống trị của phát xít Nhật và bọn tay sai, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc.

Ngày 2/9/1945, tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), trước hàng chục vạn đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Đại biểu Tổng bộ Việt Minh đọc lời hiệu triệu đồng bào cả nước đoàn kết quanh Chính phủ Hồ Chí Minh quyết tâm đấu tranh bảo vệ nền độc lập non trẻ vừa mới giành được và ra sức xây dựng xã hội mới.

Thu Trang

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh