Cao Bằng thẳm sâu tình nghĩa Việt - Lào

Thứ hai 11/10/2021 05:00

Việt Nam - Lào là hai nước anh em cùng dựa lưng vào dãy núi Trường Sơn hùng vĩ mà tự nhiên đã tạo lập nên mối quan hệ song hành, bền chặt trên con đường đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. 

Đài tưởng niệm liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam tại Lào - biểu tượng của tình hữu nghị đặc biệt Việt - Lào.

Nhìn lại cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Chỉ sau hơn một tháng, ngày 12/10/1945, Chính phủ cách mạng Lào tuyên bố độc lập trong hoàn cảnh bị các thế lực thù địch bao vây, chia cắt. Ngày 14/10/1945, Việt Nam là quốc gia đầu tiên công nhận Chính phủ cách mạng Lào và nước Lào độc lập, tự do; đồng thời thiết lập quan hệ ngoại giao, mở ra trang sử mới cho nhân dân hai nước Việt - Lào đoàn kết một lòng chống kẻ thù chung. 

Ngày 30/10/1945, hai nước ký Hiệp định hợp tác tương trợ và thành lập Liên quân chiến đấu Việt - Lào, chuẩn bị mọi mặt để đối phó với sự trở lại của thực dân Pháp xâm lược. Những đội quân tình nguyện của Việt Nam lần lượt sang đất bạn Lào xây dựng chính quyền cách mạng và lực lương vũ trang tiến hành kháng chiến. Trong những đội quân tiên phong ấy, Cao Bằng là một trong những tỉnh có nhiều đóng góp thiết thực để lại ấn tượng và tình cảm sâu sắc. 

Năm 1948, Ban xung phong Bắc Lào được thành lập do đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hản (sau này là Tổng Bí thư Đảng nhân dân cách mạng Lào) làm Chỉ huy trưởng; đồng chí Hoàng Quang Liêu (tức Đông Tùng, quê xã Hưng Đạo, thành phố Cao Bằng) được cử làm Chính trị viên. Với sự tương đồng về bản sắc văn hóa và ngôn ngữ, ông thực sự hòa mình vào cuộc sống của nhân dân, đồng cam cộng khổ, cùng nhau xây dựng và huấn luyện những đội quân chính quy đầu tiên mang tên Lát-xa-vông nòng cốt của lực lượng vũ trang cách mạng, tiền thân của Quân đội nhân dân Lào.   

Ở những địa bàn trọng yếu đều có cán bộ, chiến sĩ là con em các dân tộc Cao Bằng đã tham gia và giữ vai trò chủ chốt, như đồng chí Bế Sơn Cương, quê xã Đức Long (Hòa An) là Khu trưởng khu A (gồm các tỉnh Hủa Phăn, Sầm Nưa, Phong Xa Lỳ), vừa tích cực chiến đấu vừa khẩn trương xây dựng khu căn cứ địa vững chắc, tạo điều kiện thuận lợi để xúc tiến thành lập Ủy ban Mặt trận kháng chiến Lào (năm 1950); đồng chí Bế Giang Hà, Chính ủy Sư đoàn 355 quân tình nguyện là đơn vị chủ lực sớm có mặt trên đất bạn Lào; Trung đoàn 174 (Cao Bằng), đơn vị chủ công trên Đường số 4 rực lửa anh hùng, sau này chuyển sang hoạt động trên chiến trường Lào gắn bó suốt 12 năm liên tục lập nên nhiều chiến công vang dội.

Nhiều tướng lĩnh Cao Bằng đã được Đảng, Nhà nước và quân đội tin tưởng giao trọng trách lớn như: Thiếu tướng Bằng Giang là Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam ở Bắc Lào cùng với đồng chí Xi-xa-vạt Kẹo-bun-phăn, Tổng Tham mưu trưởng quân đội Lào chỉ huy Chiến dịch Luông Pha-băng - Nậm Thà (năm 1962) giải phóng một vùng đất đai rộng lớn, chiếm 2/3 diện tích của đất nước triệu voi, buộc kẻ địch phải ngồi bàn đàm phán ký kết hiệp định hòa bình và cam kết: Tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Lào.

Năm 1963, đế quốc Mỹ trở mặt gây hấn, lật đổ chính phủ liên hiệp, bắt giữ lực lượng kháng chiến, lấn chiếm đất đai, mở rộng chiến tranh xâm lược, Thiếu tướng Bằng Giang một lần nữa được cử làm Tư lệnh Mặt trận Trung Lào cùng với các đồng chí Xẻng-ca-pô, Xi-ma-vi-na-kệt chỉ huy liên quân Việt - Lào giải phóng Sầm Nưa - Xiêng Khoảng, bảo vệ an toàn cho các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng và Chính phủ  cách mạng Lào (năm 1964).

Năm 1969, Mỹ huy động một lực lượng lớn gồm các quân chư hầu mở cuộc hành quân Cù Kiệt mà chúng rêu rao gọi là “rửa hận” nhằm vây bắt lực lượng kháng chiến, đánh chiếm cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng. Đồng chí Vũ Lập, quê xã Vĩnh Quang (Thành phố) đang làm Tư lệnh Quân khu Tây Bắc được cử làm tư lệnh mặt trận đã nhanh chóng sơ tán 16.000 dân cư sang Việt Nam an toàn. Đồng thời, chỉ huy các lực lượng vũ trang triển khai thế trận bao vây chia cắt, tiêu diệt địch, đập tan âm mưu lấn chiếm vùng giải phóng.

Lần lượt các tướng lĩnh quê hương Cao Bằng được cử làm tư lệnh quân tình nguyện, tư lệnh mặt trận như: Chu Phương Đới, Trịnh Trân, Lê Thùy, Lãnh Hùng Tân, Đàm Văn Ngụy, Nguyễn Đóa… đã lập nhiều chiến công xuất sắc và cống hiến to lớn cho cách mạng Lào, góp phần thiết thực vun đắp mối quan hệ hữu nghị Việt - Lào ngày càng bền chặt, thẳm sâu gốc rễ tình người - lòng dân.

Rất nhiều cán bộ, chiến sĩ Cao Bằng trên chiến trường Lào được phong tặng  danh hiệu anh hùng và những phần thưởng cao quý của Đảng, Chính phủ và nhân dân  hai nước trao tặng như các anh hùng: Nông Văn Việt, Hoàng Văn Nghiên, Triệu Xuân Tâng, Trịnh Trọng Thập, Hoàng Đình Hợp…; tất cả để lại trong lòng nhân dân các dân tộc Lào những tình cảm sâu sắc và ấn tượng đặc biệt không bao giờ phai.

Năm 2012, trong một chuyến công tác sang nước bạn Lào, mặc dù chỉ là một đoàn đơn lẻ, phạm vi cấp ngành, địa phương nhưng khi biết chúng tôi từ Cao Bằng sang, ông Bộ trưởng Tư pháp Lào và Nghệ sĩ Nhân dân Đuông-my-xay-li-ka đã tiếp đón chúng tôi một buổi đặc biệt tại nhà riêng. Phút gặp gỡ đầu tiên thật bất ngờ, ông nói tiếng dân tộc nghe lơ lớ giữa tiếng Tày và Lào: Việt Nam Lao soong pì noong; Cao Bằng xâư lại ne (Việt Nam - Lào là hai anh em, Cao Bằng gần gũi lắm), chúng tôi nghe đều hiểu và tất cả cùng cười vui vẻ, tự nhiên, thân mật. Nâng chén rượu mời, ông giới thiệu đây là rượu do nhà tự làm từ cây mác kham.

Ông bảo cây mác kham ở Cao Bằng, Việt Bắc có rất nhiều, không biết bà con có chế biến thành rượu vang hay không? Rồi ông kể về những kỷ niệm thời lưu học sinh ở Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, có dịp lên thăm hang Pác Bó, suối Lê-nin, lán Khuổi Nặm… Ông Stua-ky Cua-lo, Trưởng Ban Phát thanh tiếng dân tộc Đài Phát thanh - Truyền hình Quốc gia Lào tiếp lời: Đồng chí Bộ trưởng có tình cảm rất sâu nặng với nhân dân Việt Nam…  

Trải qua các cuộc chiến tranh, hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam đã chiến đấu, hy sinh trên đất bạn. Theo thống kê chưa đầy đủ của Ban Liên lạc quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam giúp Lào, riêng tại Nghĩa trang Anh Sơn (Nghệ An) đã tiếp nhận 46 hài cốt cán bộ, chiến sĩ là con em các dân tộc Cao Bằng yên nghỉ. 

Lã Vinh

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*)

  (*)

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh