Bạn đang xem: Trang chủ » Xã hội

Gỡ rào cản và mở hướng đi mới giảm nghèo bền vững

Thứ bảy 31/08/2019 05:00

Bài cuối: Thoát nghèo từ làm nông dân năng động thời @

Xã hội bước vào thời đại @ công nghệ số, thu hẹp và rút ngắn nhiều khoảng cách, đổi mới phương thức sản xuất là tất yếu xã hội. Xu hướng xã hội mới đó đã được bắt nhịp với hộ nghèo, xã nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh qua triển khai Dự án “Hỗ trợ kinh doanh cho nông hộ tỉnh Cao Bằng và Bắc Kạn” (CSSP) của Quỹ Quốc tế về Phát triển Nông nghiệp (IFAD) tài trợ cho tỉnh (2017 - 2022) với mục tiêu góp phần giảm nghèo bền vững (GNBV). Nhiều hộ nghèo đã trở thành nông dân năng động thời @.

Từ hỗ trợ của Dự án CSSP, Nhóm đồng sở thích xóm Phạc Sliến, xã Vân Trình (Thạch An) triển khai Mô hình trồng rau sạch an toàn, tự đưa sản phẩm rau sạch ra thị trường.

“5 MỚI” THAY ĐỔI TƯ DUY CHO HỘ NGHÈO...
Những chương trình, dự án hỗ trợ trực tiếp cho hộ nghèo tiền, gạo, phân bón, giống nhỏ lẻ manh mún, chỉ để vừa đủ chống đỡ có đủ lương thực không lo đói, giải quyết bức thiết tại chỗ. Chưa kích thích được hộ nghèo thay đổi về tư duy và có đủ nguồn lực để thoát nghèo mà nảy sinh tâm lý trông chờ, ỷ lại. Khắc phục những nhược điểm cũ, hướng mới của Dự án CSSP được triển khai trên địa bàn 35 xã thuộc 4 huyện Hà Quảng, Thông Nông, Nguyên Bình, Thạch An, ông Phạm Xuân Tùng, Giám đốc Ban điều phối Dự án CSSP cho biết: Nếu hộ nghèo không ý thức được việc mình tự lựa chọn, làm chủ và tự chịu trách nhiệm về mô hình sản xuất kinh doanh (SXKD) của mình thì khó GNBV. Vì thế, mục tiêu triển khai Dự án là trao “cần câu” cho hộ nghèo để họ tự chọn, xây dựng, triển khai và chịu trách nhiệm SXKD, đưa sản phẩm ra thị trường.
Cán bộ Dự án CSSP triển khai cho hộ nghèo tiếp cận với “5 mới”, gồm: Mới về đa dạng tuyên truyền giảm nghèo và hộ nghèo làm quen với cập nhật thị trường nông sản trên các trang mạng Internet, Facebook, Zalo, các diễn đàn… Mới về hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng thích ứng với biến đổi khí hậu; từ sản xuất nhỏ lẻ tự cung tự cấp chuyển sang sản xuất hàng hóa; cho nông dân vay vốn đầu tư sản xuất; tài trợ cho dự án SXKD của doanh nghiệp (DN) có đủ điều kiện để tăng cường liên kết giữa DN và nông hộ để sản phẩm hàng hóa của DN và nông hộ tiếp cận thị trường; đầu tư hạ tầng cơ sở phục vụ phát triển sản xuất... Năm 2018, với đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn sâu được lựa chọn từ các sở, ngành, địa phương tham gia đã triển khai truyền thông, tập huấn cho hơn 7.000 lượt người/35 xã nghèo/4 huyện nghèo. Đặc biệt sau tập huấn xã nghèo, hộ nghèo phải xây dựng Kế hoạch hành động chuỗi giá trị (VCAP) tại 35 xã dự án; lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm cho tất cả các xã trên địa bàn huyện; lập kế hoạch thích ứng với biến đổi khí hậu (CCA); lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội định hướng thị trường, có sự tham gia và thích ứng với biến đổi khí hậu...
Ban điều phối Dự án tổng hợp cơ sở dữ liệu ban đầu về các chủ hộ gia đình, các xóm, xã dự án, điều kiện tự nhiên, đường nông thôn, các tiềm năng về sản phẩm nông nghiệp... Lựa chọn các xóm điểm để thành lập mới các nhóm sở thích (CIG) và xây dựng mô hình nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu. Nhóm CIG có nhiều kế hoạch SXKD khác nhau, phù hợp với mùa vụ và hoạt động quanh năm, thích ứng với nhu cầu thị trường. Ban hành Sổ tay hướng dẫn tạm thời công tác thành lập và vận hành nhóm CIG. Phối hợp với Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh, Ban điều phối Dự án huyện, Ban quản lý Dự án các xã tuyên truyền cho người dân nắm thông tin về Dự án CSSP, các lợi ích tham gia nhóm, phương pháp thành lập và vận hành nhóm. Năm 2017, Ban điều phối Dự án hỗ trợ thành lập 117 nhóm CIG/1.814 thành viên tham gia, trong đó có 870 thành viên nữ, chiếm 48% và 1.124 thành viên là hộ nghèo, cận nghèo, chiếm 62%.
Để tìm hiểu tâm tư của bà con hộ nghèo khi tiếp nhận cách làm mới của Dự án, chúng tôi gặp anh Lý Văn Đình, xóm Lũng Táy Dưới, xã Thượng Thôn (Hà Quảng), anh cho biết: Mới đầu nghe cán bộ Dự án đến tập huấn 5 cách làm mới về chọn mô hình SXKD tôi chưa hiểu lắm. Nhưng khi được cán bộ nói, phân tích cụ thể từng hộ nghèo tự chọn mô hình SXKD phù hợp, chịu trách nhiệm sản xuất và bao tiêu sản phẩm tôi cũng hiểu dần. Mới đầu, tôi lo lắng song cũng có động lực vì mình được chọn trồng cây nghệ là cây trồng quen thuộc địa phương. Sau đó đem sản phẩm đến bán trực tiếp cho công ty thu mua. Như vậy, hộ nghèo như tôi vừa làm chủ kỹ thuật trồng cây, vừa kết nối làm chủ việc bán sản phẩm của mình ra thị trường nên tôi rất phấn khởi tham gia. Cán bộ còn dạy tôi vào mạng Internet để tìm và trao đổi với các công ty, doanh nghiệp muốn mua sản phẩm nông sản của mình. Do đó, tôi thấy mình chủ động, linh hoạt, mở rộng tầm hiểu biết của mình về SXKD gắn với thị trường. Năm 2018, gia đình tôi và 4 hộ trong xóm đăng ký nhóm sở thích trồng 2,5 ha nghệ theo quy trình kỹ thuật sản xuất hữu cơ, năng suất đạt 16 - 20 tấn/ha. Riêng gia đình tôi trồng 1 ha, thu về 20 tấn bán cho công ty thu mua được 80 triệu đồng, cao hơn so với trồng cây ngô 4 - 5 lần. Năm 2019, xóm tiếp tục ký kết với công ty trồng 5 ha nghệ đỏ.
... TRỞ THÀNH NÔNG DÂN NĂNG ĐỘNG THỜI @
Dự án CSSP đẩy mạnh triển khai “5 mới”, nhiều hộ nghèo đã thay đổi tư duy, ý thức tự vươn lên làm các mô hình SXKD gắn với thị trường. Đặc biệt hộ nông dân nghèo trở thành nông dân năng động thời @ bởi tự chủ động chọn mô hình SXKD phù hợp, vừa liên kết “4 nhà” nâng cao chất lượng sản phẩm, đưa sản phẩm ra thị trường, quảng bá sản phẩm và tìm đối tác trên mạng internet...
Chúng tôi đến huyện Nguyên Bình trong diện Dự án hỗ trợ, lãnh đạo huyện giới thiệu đến thăm Nhóm nông dân cùng sở thích, dân tộc Dao ở xóm Cốc Phường, xã Thành Công. Anh Đồng Văn Hùng, trưởng nhóm xóm Cốc Phường cho biết: Trước đây hộ nghèo được hỗ trợ trực tiếp gạo, công cụ sản xuất, giống cây, con chỉ đáp ứng theo mùa vụ, chưa phù hợp với nhu cầu bà con và điều kiện sản xuất địa phương. Năm 2017, cán bộ Dự án xuống triển khai lớp tập huấn, sau đó bà con thành lập nhóm sở thích với 12 thành viên tự nguyện tham gia, chọn mô hình trồng cây dong riềng và sản xuất miến bán ra thị trường. Nhóm đã xây dựng quy chế hoạt động như gây quỹ, lập kế hoạch phát triển kinh tế hộ, chia sẻ kinh nghiệm, kỹ thuật sản xuất miến dong an toàn vệ sinh thực phẩm, thường xuyên trao đổi thông tin về giá cả thị trường các mặt hàng nông sản tìm thị trường đầu ra... Các hộ trong nhóm tuy ở vùng sâu, vùng xa nhưng đã biết sử dụng thành thạo mạng Internet để quảng bá và tìm hiểu thị trường tiêu thụ sản phẩm. Qua đó, bà con chuyển từ canh tác truyền thống sang sản xuất hàng hóa gắn với thị trường tiêu thụ. Từ việc chọn mô hình SXKD theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm nên 12 hộ mở rộng diện tích trồng dong riềng và có sản phẩm miến dong chất lượng bán ra thị trường ổn định. Mỗi hộ có thu nhập trên 30 - 60 triệu đồng/hộ/năm. Ngoài ra, các hộ còn chăn nuôi lợn đen bản địa phục vụ cho thị trường. Từ khi nhóm duy trì sinh hoạt định kỳ hằng tháng, anh em trong xóm đoàn kết, gắn bó hơn. Ngoài việc hỗ trợ nhau trong sản xuất còn tuyên truyền, vận động các hộ gia đình tích cực tham gia các chương trình giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư và giữ gìn vệ sinh môi trường nông thôn.
Nhiều mô hình nhóm sở thích điển hình phát triển, nông dân nghèo trở thành nông dân năng động thời @. Chúng tôi đến thăm Mô hình sản xuất rau an toàn xóm Phạc Sliến, xã Vân Trình (Thạch An), chị Đinh Thị Hoa, trưởng nhóm sở thích Mô hình cho biết: Từ năm 2017, với sự hướng dẫn của cán bộ Dự án và đầu tư 40 triệu đồng cho 15 hộ, chị em tự xây dựng mô hình trồng rau an toàn. Mô hình phát triển tốt bởi bắt nhịp với kỹ thuật sản xuất mới, có nhiều loại rau chất lượng cao. Đặc biệt chị em tự đưa các sản phẩm rau giao cho siêu thị thực phẩm ở Thành phố và quảng cáo, bán hàng qua mạng Facebook, Zalo và “ship” hàng phục vụ chu đáo cho khách hàng. Nhiều hộ chị em thoát nghèo có thu nhập ổn định, đến nay thoát nghèo.
Từ sự thay đổi nhận thức và định hướng cách làm mới cho hộ nghèo, không chỉ giúp hộ nghèo thay đổi tư duy, năng động làm chủ mô hình SXKD mà đã tạo ra một thế hệ nông dân năng động thời @ nâng cao dân trí, GNBV, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương và thực hiện mục tiêu thiên nhiên kỷ về GNBV gắn với bảo vệ môi trường.
Về hiệu quả Dự án CSSP, đồng chí Đàm Văn Eng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh nhận định: Dự án CSSP được triển khai có vai trò quan trọng đối với tỉnh, đặc biệt làm thay đổi tư duy hộ nghèo chủ động tự lực làm chủ các mô hình SXKD vươn lên thoát nghèo, đồng thời thúc đẩy sự năng động, mở mang dân trí cho bà con. Đây sẽ là mô hình điểm để thời gian tới các cấp, ngành tiếp tục nhân rộng về đổi mới cách hỗ trợ giúp hộ nghèo chủ động vươn lên thoát nghèo bền vững trong toàn tỉnh. Với các nguồn lực của Dự án góp phần cho tỉnh đạt được các mục tiêu xóa đói giảm nghèo, thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới.
Đến nay, Dự án củng cố 117 nhóm đồng sở thích tại 35 xã thuộc 4 huyện Thông Nông, Thạch An, Nguyên Bình, Hà Quảng. Các nhóm này hỗ trợ nhau phát triển sản xuất, chăn nuôi hàng hóa như: chăn nuôi bò, lợn, gà, trồng cây ăn quả và các cây trồng mũi nhọn của địa phương như: lạc hàng hóa, gừng, nghệ, mía đường, sắn cao sản, thuốc lá, trúc sào. Điểm nổi bật khi tham gia hoạt động nhóm đồng sở thích là bà con nông dân, nhất là hộ nghèo hỗ trợ cho nhau công sức lao động trong sản xuất, thu hoạch sản phẩm, không mất chi phí nhân công. Các hộ lập kế hoạch phát triển SXKD, tính toán chi phí phát triển kinh tế hộ, tham gia tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật. Đặc biệt hộ nghèo còn được định hướng sản xuất các sản phẩm nông nghiệp sạch, an toàn, kết nối thị trường và tiêu thụ nông sản ổn định, giúp các địa phương thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu Quốc gia về GNBV.

 Từ năm 2017 đến nay có 6.495 lượt người là cán bộ, DN, HTX và người dân được tham gia Dự án CSSP. Trong đó 2.776 nữ (chiếm 40%), 1.805 người là hộ nghèo/hộ cận nghèo; 8 DN, HTX liên kết với các nhóm sở thích dự án về đầu tư và bao tiêu sản phẩm; thực hiện thí điểm 30 mô hình sản xuất thích ứng với biến đổi khí hậu với 666 hộ tham gia, 404 hộ nghèo/cận nghèo (chiếm 61%); thành lập và củng cố được 117 nhóm CIG/1.814 thành viên, trong đó có 870 thành viên nữ (chiếm 48%) và 1.124 thành viên là hộ nghèo/cận nghèo (chiếm 62%). Các nhóm có trên 120 triệu đồng quỹ hoạt động và tiết kiệm sử dụng cho các thành viên vay hỗ trợ sản xuất; đã rà soát được các hạng mục công trình hạ tầng nông thôn theo các tiêu chí. Sổ tay hướng dẫn thực hiện các công trình hạ tầng nông thôn để có thể lựa chọn thực hiện trong thời gian tới khi có nguồn vốn. Tỷ lệ giảm nghèo tại các xã trong Dự án cao hơn 20% so với

Hà Giang - Trường Hà

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh