Bạn đang xem: Trang chủ » Xã hội

Gỡ rào cản và mở hướng đi mới giảm nghèo bền vững

Thứ sáu 30/08/2019 08:00

Bài 2: Gỡ rào cản giảm nghèo

Từ thực tế triển khai chính sách hỗ trợ trực tiếp cho hộ nghèo, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) trong tỉnh, có thể nhìn nhận: Giai đoạn trước, chính sách hỗ trợ trực tiếp bằng hình thức cho không nên chỉ thích hợp trong thời gian ngắn. Không ít hộ nghèo chưa phấn đấu thoát nghèo có suy nghĩ “Cứ đến thời hạn lại nhận được tiền hỗ trợ, phát gạo, khám chữa bệnh miễn phí, vay vốn…” nên trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước. Chính sách hỗ trợ giảm nghèo bền vững (GNBV) tuy thời gian dài, nhưng do nguồn vốn nhỏ giọt, lại dàn trải nên không ít chương trình, dự án triển khai dang dở, không giải quyết được vấn đề gốc rễ là tạo sinh kế cho người dân để GNBV. Vì vậy cần gỡ bỏ những rào cản trên để người dân ý thức tự vươn lên thoát nghèo.
Đoàn công tác Hội chữ thập đỏ tỉnh khám bệnh miễn phí cho đối tượng hộ nghèo xã Phong Nặm (Trùng Khánh).
THAY ĐỔI TƯ DUY ĐỂ HỘ NGHÈO PHẤN ĐẤU THOÁT NGHÈO

Thực tế cho thấy, nguyên nhân giảm nghèo thiếu bền vững không chỉ do điều kiện vùng miền, xuất phát điểm thấp, hoàn cảnh hộ gia đình mà còn do dân trí không đồng đều, tư duy hạn chế nên tư tưởng trông chờ, ỷ lại trở thành lực cản lớn GNBV. Bởi sự hạn chế về tư duy khiến nhiều người nghèo dễ bằng lòng với thực trạng đói nghèo để được hưởng những quyền lợi của hộ nghèo mà không nhìn thấy được cái lợi, giá trị thoát nghèo. Để góp phần nâng cao dân trí, tạo động lực cho hộ nghèo vươn lên thoát nghèo cần có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, đồng bộ biện pháp phù hợp với đặc điểm tình hình của vùng miền, địa phương, cộng đồng, nhóm hộ, như vậy mới khơi dậy được tinh thần nỗ lực phấn đấu vươn lên thoát nghèo.
Đầu tư nâng cao dân trí, trước hết chú trọng vai trò nguồn cán bộ, đặc biệt là cán bộ các địa bàn vùng đồng bào DTTS, bởi hộ nghèo đồng bào DTTS chiếm đa số trong toàn tỉnh. Những năm 2011 - 2015, Cao Bằng đẩy mạnh xây dựng hệ thống chính trị xã, phường chuẩn hóa, trẻ hóa đội ngũ cán bộ xã tại vùng đồng bào DTTS, trình độ dân trí thấp. Đây là đội ngũ tiên phong trực tiếp “cầm tay, chỉ việc”, sát dân để vận động, tuyên truyền, hướng dẫn cho bà con học tập, chuyển giao khoa học kỹ thuật, các mô hình làm kinh tế và đảm nhận xã làm chủ đầu tư các chương trình, dự án.

Phát huy vai trò già làng, trưởng bản, người có uy tín vùng đồng bào DTTS để thuyết phục bà con nêu cao tinh thần tự lực, vươn lên thoát nghèo. Ưu tiên cho việc tổ chức tham quan các mô hình sản xuất hiệu quả để người dân được tham gia, chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm sản xuất. Đây là một trong những cách tuyên truyền hiệu quả, vừa góp phần nâng cao dân trí cho người nghèo, vừa giúp họ tìm ra hướng đi, tích luỹ kinh nghiệm sản xuất. Tuyên truyền, nhân rộng các mô hình, điển hình, tấm gương thoát nghèo để các hộ nghèo tự giác vượt khó vươn lên thoát nghèo, thấy rõ thoát nghèo mở ra nhiều cơ hội mới trong cuộc sống. Tăng cường công tác hướng nghiệp, dạy nghề, phân luồng đào tạo đối với học sinh bậc học THCS và THPT để trở thành lực lượng lao động quan trọng sau khi tốt nghiệp, sẽ có lựa chọn đúng đắn, là theo học đại học hay cao đẳng, trung cấp, sơ cấp nghề. Nguồn lao động trẻ được đào tạo này sẽ đóng góp quan trọng cho gia đình, cộng đồng triển khai GNBV.
 ĐỔI MỚI ĐẦU TƯ SINH KẾ CHO NGƯỜI DÂN TỰ THOÁT NGHÈO
Giai đoạn trước, hộ nghèo được hỗ trợ trực tiếp gạo, tiền, giống cây, con, làm nhà..., ví như đem đến ngay “con cá” cho hộ nghèo nên giảm động lực tự vươn lên thoát nghèo và không cần trang bị cho mình làm thế nào có “cần câu” để thoát nghèo. Một trong những điểm mới của Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020 là chuyển mạnh từ việc cấp phát, cho không sang hỗ trợ có điều kiện, để nâng cao ý thức, trách nhiệm của người nghèo trong việc phát triển sản xuất, kinh doanh để từng bước vươn lên thoát nghèo.
Từ chủ trương đó, các cấp, ngành chức năng, địa phương nghiên cứu áp dụng giải pháp để chuyển dần từ việc hỗ trợ trực tiếp thành việc hỗ trợ sinh kế là chủ yếu. Quá trình triển khai, đã gắn trách nhiệm của người được hỗ trợ với hiệu quả của chương trình hỗ trợ. Gắn quyền lợi với nghĩa vụ và trách nhiệm để bà con có động lực thoát nghèo. Một số huyện có xã nghèo đã từng bước xác định mô hình sản xuất phù hợp, hiệu quả. Huyện Bảo Lâm, Bảo Lạc phát triển chăn nuôi bò hàng hóa, phát triển kinh tế rừng như cây hồi, trúc, dâu tằm; Hà Quảng nâng cao chất lượng cây con hàng hóa theo công thức “3 cây + 2 con” (thuốc lá, ngô, lạc và chăn nuôi bò, lợn đen); Quảng Uyên, Phục Hòa, Hạ Lang duy trì phát triển trồng mía hàng hóa và chăn nuôi...
 Phó Chủ tịch UBND huyện Hà Quảng Nguyễn Thị Phương cho biết: Số hộ nghèo chủ yếu là đồng bào DTTS vùng sâu, vùng xa, trình độ hạn chế, tập quán canh tác lạc hậu, thiếu đất và phương tiện sản xuất, lao động không có việc làm... Vì vậy, huyện xác định tập trung đầu tư sinh kế cho hộ nghèo tự chủ động chọn những mô hình sản xuất kinh doanh phù hợp để vươn lên thoát nghèo. Lãnh đạo huyện luôn sâu sát, kịp thời nắm tâm tư, nguyện vọng của người dân, làm cơ sở để xác định nguyên nhân, nhóm đối tượng nghèo, từ đó đề xuất cơ chế, chính sách phù hợp với điều kiện thực tế của từng vùng, xã; giao cho các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện việc tín chấp với ngân hàng tạo điều kiện cho người dân tiếp cận với nguồn vốn vay để đầu tư vào sản xuất. Giai đoạn 2016 - 2018, toàn huyện có 2.876 lượt hộ nghèo được vay vốn, với tổng số tiền 97 tỷ 272 triệu đồng; 300 lượt hộ cận nghèo được vay vốn, với tổng số tiền 13 tỷ 047 triệu đồng.
Từ nguồn vốn các chương trình 30a, 135, huyện đã hỗ trợ sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo trên địa bàn huyện với tổng kinh phí 2 tỷ 448 triệu đồng. Ông Nông Văn Sàu, xóm Lũng Quảng, xã Sỹ Hai chia sẻ: Trước đây, gia đình tôi thuộc diện hộ nghèo, từ khi được cán bộ xã đến vận động, khuyến khích phát triển chăn nuôi bò, phù hợp với điều kiện gia đình, tôi vay vốn  Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội đầu tư nuôi hơn 10 con lợn thịt, 4 - 6 con trâu, bò đạt hiệu quả nên 2 năm nay, gia đình tôi đã có tiền trả vốn ngân hàng và vươn lên thoát nghèo.
Cùng với việc đầu tư sinh kế lâu dài cho người dân, việc đổi mới cơ chế quản lý trong thực hiện giảm nghèo đóng vai trò quan trọng. Phối hợp lồng ghép các chính sách hỗ trợ người nghèo trong chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương để hỗ trợ tốt nhất khả năng tự vươn lên thoát nghèo. Huy động sự vào cuộc của các hộ nghèo bằng cách Nhà nước đầu tư, hỗ trợ xây dựng, người dân tham gia đóng góp công lao động, làm đường giao thông nông thôn, tu sửa kênh mương, xây dựng nhà văn hóa... Chính sách hỗ trợ hộ cận nghèo, mới thoát nghèo cần bảo đảm để người dân được tiếp tục hưởng các chính sách hỗ trợ tín dụng, khuyến nông, khuyến lâm, học nghề để tránh tình trạng tái nghèo khi gặp rủi ro.
Cùng với những giải pháp nêu trên, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá hỗ trợ các mô hình sản xuất để kịp thời có các giải pháp điều chỉnh phù hợp với từng giai đoạn; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, đặc biệt là vi phạm trong đội ngũ cán bộ, đảng viên trong rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo… Các cấp, ngành, địa phương phối hợp đồng bộ để cùng đem lại những giải pháp hiệu quả cho gỡ rào cản GNBV trong giai đoạn mới.

 Bài cuối: Thoát nghèo từ làm nông dân năng động thời @

Hà Giang - Trường Hà

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh