Bạn đang xem: Trang chủ » Xã hội

Cao Bằng nhớ ơn Bác Hồ

Thứ sáu 17/05/2019 14:00

Thời gian lùi xa nhưng đến ngày 19/5, trong lòng mỗi người dân Cao Bằng lại nhân lên nỗi nhớ khôn nguôi Già Thu. Những năm tháng gian khó nhất, Bác về Pác Bó lãnh, chỉ đạo, xây dựng căn cứ địa cách mạng (CM); Người và nhân dân Cao Bằng gắn bó tình cảm son sắc, vượt qua mọi gian nguy thực hiện thành công con đường đấu tranh giải phóng dân tộc. Nhớ công ơn trời biển và tình cảm của Bác, Đảng bộ và nhân dân Cao Bằng luôn ghi nhớ và thực hiện tâm nguyện, Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Kỳ I: Lời Bác thiết tha vang mãi trên quê ta

Bà Hoàng Thị Khìn, Lão thành cách mạng kể chuyện những ngày Bác Hồ thường ngồi bên bàn đá đầu nguồn suối Lê-nin làm việc.

Ai đã đến, ai chưa đến đó/Có hòn núi Mác, suối Lê-nin/Hãy về thăm quê ta Pác Bó/Nơi Bác về, nguồn nước mới sinh... 78 năm trước, mùng 2 Tết Tân Tỵ 28/1/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vượt qua biên giới Việt - Trung trở về Pác Bó xây dựng căn cứ địa CM là mùa xuân đặc biệt. Bởi từ lời Người giác ngộ dân bản Pác Bó và các dân tộc anh em Cao Bằng đi theo CM, thúc đẩy phong trào CM cả nước lớn mạnh, đấu tranh giải phóng dân tộc, khai sinh ra Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Theo lời kể của bà Hoàng Thị Khìn, Lão thành CM đưa cơm cho Bác Hồ ở bản Pác Bó, xã Trường Hà (Hà Quảng), chúng tôi ngược dòng lịch sử về với Pác Bó những năm 1941 - 1945.
NGƯỜI VỀ THẮP LÊN MUÔN NGỌN LỬA HỒNG
Bà Khìn tuy đã hơn 95 tuổi là bậc cao niên nhất trong bản, nhưng nói việc gì bà cũng không quên. Đặc biệt, nhắc đến Bác Hồ bà lại càng nhớ; bà xúc động nói: Tôi nhớ ngày 19/5 sinh nhật Bác Hồ, dân bản đi lên suối Lê-nin, bởi Bác vẫn như ngồi bên bàn đá nói cho dân bản giác ngộ CM, soi ngọn lửa hồng cho bao kiếp đời khổ đau... Bà kể: Mùa xuân năm 1941, Người về qua mốc 108. Khi đó dân bản nhà nào cũng ăn đói mặc rách, oằn lưng làm lụng quanh năm mà không đủ tiền nộp sưu, thuế cho quan Tây, cường hào đến bản cướp bóc, đánh đập, bắt người đi phu, đi lính nên vợ lìa chồng, cha lìa con. Cuộc sống khổ như kiếp trâu ngựa nhưng dân bản không ai lý giải được vì sao phải sống khổ cực.
Cuối năm 1940, tôi thấy pá (cha của bà, tức ông Hoàng Quốc Long, Lão thành CM) thường đón mấy người bạn tồng (anh em kết nghĩa - Lê Quảng Ba, Hoàng Tô, Hoàng Sâm) về nhà ăn cơm, rồi vội vàng ra đi. Pá dặn cả nhà, khi có lính dõng, quan Tây đi tuần, bảo mấy người bạn tồng chui vào chiếc rương to dưới bàn thờ. Phải kín đáo bảo vệ mấy người bạn tồng. Họ là người tốt, sau này sẽ giúp nhiều việc cho dân bản… Gần Tết năm 1941, trời rét buốt, mấy người bạn tồng của pá đến nhà bàn bạc rất lâu. Pá bảo chị cả (bà Hoàng Thị Hoa, Lão thành CM) và tôi nắm cơm cho họ ra đi trong đêm rét lạnh. Mấy người bạn tồng đi rồi, tôi thấy pá đêm thường ngồi trầm ngâm bên bếp lửa, lo lắng đứng ngồi không yên. Khi đó, tôi đâu biết pá đã được giác ngộ CM, đang lo cho mấy đồng chí cán bộ đi đón một người “thượng cấp” ở bên kia biên giới về bản.
Mấy ngày Tết, tôi thấy pá ra đi rồi trở về cùng chú Lê Quảng Ba. Pá bảo chị Hoa nấu cơm gói mang đi theo chú Ba bí mật đi lên suối Giàng (suối Lê-nin). Mấy ngày sau, chị Hoa bảo tôi nấu cháo ngô, rồi cùng vượt rừng đi lên đầu suối Giàng cho Ké. Ông Ké nói tiếng Nùng giọng ấm áp, giới thiệu tên Già Thu, ân cần hỏi thăm dân bản sống cực khổ thế nào và giải thích: Bọn quan lại tay sai và thực dân Pháp bắt dân ta nộp sưu cao thuế nặng và bắt người đi phu, không cho dân ta đi học, bắt đi lính là để dân đói khổ, mù chữ, gia đình ly tán không có sức chống lại chúng. Các cháu có muốn dân bản ai cũng được tự do, cơm no, áo ấm?.
Lời Già Thu như ngọn lửa sưởi ấm lòng tôi. Hai chị em reo lên: Có cách nào làm được điều ông nói? Già Thu lại ôn tồn giải thích: Nếu dân bản già, trẻ, gái, trai, rồi người Tày, Nùng, Mông, Dao… ở khắp nơi cùng nhau hợp sức lại, học chữ làm CM sẽ đánh đuổi bọn chúng, giành lại độc lập, tự do, hạnh phúc... Về nhà, hai chị em vui mừng kể lại cho pá nghe lời Già Thu. Pá tôi mừng lắm, bụng ưng lắm và bảo hai chị em nghe lời Già Thu vận động dân bản cùng nhau hợp sức làm CM.
THEO LỜI NGƯỜI TOÀN DÂN ĐOÀN KẾT ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG
Được pá động viên theo lời Già Thu, hai chị em tôi thay nhau nấu cơm, cháo ngô đem vào rừng cho Già Thu và cán bộ CM. Đi lấy củi, làm nương rẫy gặp dân bản lại vận động bà con đi học chữ làm CM để giành lại cuộc đời tự do nên nhiều người hưởng ứng. Già Thu tặng hai chị em tôi cuốn sách Việt Minh ngũ tự kinh và dặn: "Các cháu nhớ học chữ để đọc hiểu cuốn sách này. Hiểu biết rộng để làm CM, sau này đứng lên giành độc lập, tự do thì Bác mới trả được hết công lao các cháu". Bản làng đông người theo CM, Già Thu phân công đồng chí Cao Hồng Lĩnh phụ trách lên lớp dạy học chữ, còn Người trực tiếp lên giảng bài về đạo đức người cán bộ CM. Biết chữ, đọc được sách, nghe Già Thu và cán bộ CM giảng bài, đầu óc tôi và dân bản sáng ra. Tôi mới hiểu, Già Thu đặt tên Suối Giàng là suối Lê-nin, Phja Tào là núi Các Mác tức là đem một con đường đấu tranh CM chống chủ nghĩa đế quốc, để dân bản không cam chịu bị đàn áp bóc lột khổ cực, mà giành lại tự do, dân cày có ruộng, có cơm no, áo ấm.
Mỗi bài dạy học chữ và bài giảng của cán bộ CM và Già Thu, mọi người đều cố gắng học để đọc sách, báo tuyên truyền đường lối CM, Mặt trận Việt Minh. Hoạt động CM, dù gặp nhiều gian nan nhưng chị em tôi không nản lòng, vận động dân bản tham gia vào các tổ chức Hội Thanh niên, Phụ nữ, Phụ lão, Nhi đồng cứu quốc. Hai chị em tôi vào Hội Phụ nữ cứu quốc vận động chị em trong bản, xã đóng góp lương thực, bán củi đổi lấy muối nuôi cán bộ CM. Làm tốt công tác hậu cần, đưa đón, bảo vệ cán bộ 3 miền Bắc, Trung, Nam về Pác Bó học các lớp tập huấn cán bộ, du kích và dự Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII tại Khuổi Nặm.
Dân bản ngày càng tin tưởng vào lời Già Thu, ngày càng đông đảo người dân xã Trường Hà, Sóc Hà, Lục Khu… theo con đường CM mà Người chỉ đạo.  Năm 1941 - 1944, châu Hà Quảng và nhiều châu khác trở thành châu Việt Minh hoàn toàn. Khí thế CM ngày càng lên cao, nhân dân hưởng ứng theo Việt Minh đánh bại nhiều cuộc truy quét, lùng sục các tổ chức cán bộ CM và những khủng bố dã man của quân địch.

Tháng 3 - 8/1945 tại Hà Quảng, lực lượng vũ trang CM đã bao vây châu lỵ, đồn Sóc Giang vận động lính dõng đầu hàng và thu toàn bộ vũ khí đạn dược. Ban Việt Minh tuyên bố xóa bỏ chính quyền thực dân phong kiến, lập ra UBND lâm thời CM, ban bố các chính sách mới. Tôi và dân bản không quên được những ngày cuộc đời mình được thấy một chính quyền mới, chính sách mới chăm lo cho đời sống nhân dân... Từ đây, phong trào lan rộng ra các châu, lỵ khác trong toàn tỉnh Cao Bằng.
Tháng 5/1945, tôi cùng cả bản Pác Bó tiễn Già Thu từ Pác Bó đi Tân Trào (Sơn Dương, Tuyên Quang), Người động viên dân bản tiếp tục đoàn kết đấu tranh giành chính quyền khi thời cơ đến. Mọi người luôn tin tưởng, quyết tâm làm theo lời Già Thu. Đến tháng 8/1945, đồng bào cả nước đứng lên tiến hành Tổng khởi nghĩa, đánh đổ chế độ thực dân phong kiến, giành thắng lợi. Ngày 2/9/1945, Người đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.
Từ Pác Bó, lời Già Thu đã gieo ngọn lửa CM đem lại cuộc đời mới cho dân bản Pác Bó và hàng triệu người dân Việt Nam, xóa bỏ chế độ cai trị thuộc địa của thực dân Pháp, đưa lịch sử dân tộc bước sang trang mới nước Việt Nam độc lập, tự do, mở ra thời đại Hồ Chí Minh. Tình cảm của Già Thu luôn in đậm trong lòng dân bản Pác Bó, như núi Các Mác hũng vĩ, suối Lê-nin rì rào chảy, hát mãi lời ca về Người đến nơi đây viết bài ca cách mạng cho dân tộc Việt Nam.
            
Kỳ cuối: Nguyện theo lời Bác xây dựng tương lai tươi sáng 

Trường Hà

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh