Về nơi gánh hai đầu đất nước

Chủ nhật 17/06/2018 07:00

Những ngày giữa hạ, đoàn nhà văn khởi hành trẩy vào khu Tư thực tế. Đi trong cái nóng oi bức miền Trung, có người đùa rằng chúng mình giống như hoa tươi, để vào trong lò sấy. Nắng nóng sẽ làm cháy da, cháy thịt, cháy râu, cháy tóc. Nắng đã làm chảy cả nhựa trên đường. Mặt đường ướt đẫm như vừa phun mưa chống bụi. Dường như đất đá nơi đây cũng tan ra thành kem, huống chi người.

Đài tưởng niệm Khu mộ Liệt sỹ tỉnh Cao Bằng tại Nghĩa trang Liệt sỹ Quốc gia Trường Sơn (Quảng Trị). Ảnh: Hồng Xiêm

Người khu Tư vốn sẵn máu nóng chắc là do nắng. Tuy có máu nóng, nhưng hình như ai sinh ra từ nơi này cũng ham học, ham làm, và nhiều người tài năng xuất chúng. Thế là cánh nhà văn ai ai cũng hào hứng xung phong, được ném mình vào cuộc thử lửa.
Tôi muốn gọi khu Bốn là khu Tư, như các cụ hồi đầu kháng chiến vẫn gọi. Nghe hai tiếng khu Tư vừa xa xôi cách trở, vừa gần gụi dân giã. Nghe hai tiếng khu Tư sao nó lãng mạn, thân thương đến thế. Khu Tư gian khổ hy sinh… lửa cháy ngút trời… ôi đau thương điêu tàn… cát trắng… máu hoen… Bài hát đục lên trong tôi như một dòng sông lửa. Dòng sông ấy, từng chảy qua đây, cách nay trên dưới sáu chục năm trời.
Bao giờ khu Tư cũng gian khổ. Nắng nóng và gió lào. Cát trắng và nghèo đói. Nhưng bây giờ… mùa hè thịt dê/mùa đông thịt chó… Thì đâu còn nghèo.
Hình như đã lâu lắm, kể từ ngày chưa biết yêu, bây giờ chúng tôi mới lại vào đây. Cái tiếng Nghệ trọ trẹ, ba bốn chục năm không được nghe, nên quên rồi. Bây giờ, nghe lại, như mới lần đầu. Những thanh âm khi chớm vào tai, thấy nó thã thượt, nửa trêu tức, nửa mời mọc. Nhưng nghe một hồi, tiếng Nghệ ngọt dần rồi tràn vào tim óc. Cái tiếng Nghệ sáng long lanh… thật dễ thương.
Thanh Hóa đây rồi. Xứ Thanh bắt đầu sừng sững từ bóng cầu Hàm Rồng. Các o thôn nữ đi xanh tươi như lúa. Chân bơi bơi trong nắng vàng tươi, đẹp hơn tranh lụa. Thanh Hóa - nơi nổi tiếng với món nem chua với cá thu một nắng. Người xứ Thanh tiếng vang như chiêng, âm sắc mặn mòi như muối biển. Kìa là tóc lòa xòa ngang mặt. Kìa là thơ như lửa đốt giữa gió lào. Thơ ấy không lẫn với bất cứ ai. Cứ bùng biềng, ngân nga, mênh mang câu hò sông Mã.
Vừa mới đây thôi, giờ đã nam Thanh bắc Nghệ. Phiên chợ Giát quê của nhà văn Nguyễn Minh Châu đó tề. Có con bò vàng đang lăng lắc kéo tiếng cút kít đi qua. Nó rền rĩ chậm chạm lăn lăn lăn một cách nhẫn nại. Trên xe có mỗi một chiếc mũ lá cọ. Chiếc mũ lá cọ rách vành, nghiêng nghiêng, lươn lướt qua từng ô cửa. Hình như ô cửa nào cũng có người đàn bà vấn tóc, răng đen, mắt sáng, cười nâu.   
Xe đang tiến dần về Vinh mỗi lúc một gần. Vinh hiện lên một thành phố bên bờ biển trắng. Những con phố rộng bốn năm sáu bảy tám làn xe đi. Đường thẳng vuông vắn như kẻ ô bàn cờ. Lác đác có những tòa nhà chọc trời. Họ xây theo nhiều kiểu, nhiều dạng, trông như rừng nhiệt đới.
Từ Vinh, đoàn chúng tôi ngược lên phía Tây, giáp Lào. Cùng nhau đi đường Hồ Chí Minh cho oách.
Đường Hồ Chí Minh quả là hoành tráng. Đường phấp phới vắt mình như dải lụa nhờ nhờ trên lưng trên vai Trường Sơn. Rồi đột nhiên đường ào ào bay qua dòng thác bạc, rồi đột nhập chui vào một khu rừng rậm. Ở đấy toàn cây cao và thẳng. Cây dâng lên tận trời những mâm lá và hoa sương muối trắng muốt. Rồi đột ngột con đường húc đầu cắm phập vào vách đá. Lúc này đường như một mũi tên bay cong hình cầu vồng. Đường xuyên thủng núi đá. Núi đá mập và dày nhưng bị đường xuyên qua như không. Tôi thấy hai bên cửa kính, trên đầu, dưới đuôi xe, từng đàn bướm rợp rờn trắng lóa. Trắng lóa như hoa biết bay. Hoa lung liêng như sắp rơi sau lưng trước mặt.
Đi tới đâu, cũng có người kể rằng nhà thơ Phạm Tiến Duật đã từng ở đây. Anh ấy đã kề lên báng súng làm thơ… Trên đất nước này, hình như thơ và súng là anh em sinh đôi. Hai thứ đó từ khi ra đời, nó đã đi cùng nhau như một tiền định. Bởi thế, hình ảnh người lính trẻ đội mũ sắt, vai đeo túi thơ, trở thành biểu tượng của cả dân tộc đi vào kháng chiến. Kháng chiến và làm thơ. Kháng chiến và thi ca. Buộc nhân loại nhìn vào dân tộc mình, mà tỏ lòng kính phục.
Chênh vênh trên kia là làng người Vân Kiều, người Tà Ôi. Những người con của các bộ tộc thiểu số sống trên rẻo Trường Sơn. Họ lặng lẽ góp công góp sức cho cuộc kháng chiến thần thánh. Hàng chục hàng trăm tấn gạo và đạn dược đi qua đôi vai và đôi chân trần của họ. Những người bà con ưu tiên được mang họ Bác Hồ. Họ đã phục vụ lâu dài cho cuộc kháng chiến đến ngày toàn thắng. Bây giờ, nhờ có con đường này, người Vân Kiều, người Tà Ôi gần với người miền xuôi hơn. Gần thành phố hơn. Gần với ánh sáng văn minh hơn. Nụ cười bừng lên trên làn da nâu đen. Nụ cười rất đỗi hiền lành, đã khiến cho bao người thèm muốn được sống thanh khiết, vô tư như họ.
Bên phải là núi của nước Lào. Người bạn láng giềng có tiếng nói na ná giống người Tày, người Thái bên mình. Họ là những người bạn rất mực hiền lành và thủy chung. Bên trái cách đường Hồ Chí Minh vài chục cây số, nơi tiếp giáp biển xanh. Ở chỗ này chẳng đường biên, mốc giới, biển hiệu. Nên không ai biết đấy là đâu. Có người đoán rằng đoàn ta đã vượt sông Bến Hải. Kia là đường Chín, Khe Sanh. Những cái tên Bến Hải, Khe Sanh, Đường Chín… nghe đầm đìa máu và nước mắt một thời.
Trên xe, hầu hết là nhà văn cựu chiến binh. Khi tới đây, tự dưng không ai mở miệng nói. Vẻ mặt người nào cũng đăm đăm tư lự. Kia rồi. Trước mặt là Nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn. Nơi quy tập hơn mười ngàn mộ liệt sỹ từ các chiến trường về đây yên nghỉ. Đất và trời Quảng Trị như người mẹ hiền. Ngày đêm mẹ ôm ấp vỗ về, che chở cho các anh.
Các nhà văn tản ra, từng người từng người đi tìm bia mộ, có khắc ghi tên tuổi các liệt sỹ. Nơi đây như một thành phố thu nhỏ. Thành phố chia ra nhiều tiểu khu. Khu Hà Nội. Khu Thái Bình. Khu Nam Định. Khu Sơn La. Khu Lai Châu… Mỗi khu phố có một biểu tượng riêng của vùng đất đó. Khu Cao Bằng có bông hoa tám cánh. Nhìn từ xa, tôi nhận biết đấy là hình ảnh thân thương của quê mình rồi.
Quỳ trước bông hoa tám cánh, tôi chẳng thể nào đọc nổi tên người. Trong mắt tôi, các dòng chữ nắm tay nhau nhảy nhót. Chữ nọ dính liền vào chữ kia, làm thành một khối. Phần nhiều họ là người Quảng Uyên, Phục Hòa, Trùng Khánh… Người Hạ Lang, Thạch An. Các anh ơi. Vì đường quá xa xôi, tận bây giờ tôi mới được tới thăm viếng. Trong đây có người nhà của anh không? Có. Đã là người Cao Bằng, đều là anh em ruột thịt...
Tạm biệt Trường Sơn. Tạm biệt con đường mang tên Bác. Đoàn nhà văn quay trở ra Hà Nội. Chào nắng nóng và gió Lào. Chào miền Trung giòn nẩy bởi những câu hò buồn. Buồn nhưng vô cùng ngọt lịm. Ôi! Tấm lưng ong mềm mại miền Trung, gánh hai đầu đất nước.
           

Y Phương

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh