Văn hóa Tày qua “Tháng Giêng - Tháng Giêng, một vòng dao quắm” của Y Phương

Thứ năm 15/03/2012 09:00

Đọc tập tản văn “Tháng giêng - Tháng giêng, một vòng con dao quắm” của nhà thơ Y Phương, ta bị hút hồn bởi nhiều lẽ. Cách nhìn, cách cảm, cách nói của một nhà thơ tài hoa làm toát lên cái lung linh, kì diệu của ngôn từ; cái ấm áp nồng nàn của tình người, cái long lanh của cuộc đời muôn mặt... Và theo đó, văn hoá miền núi với không gian lựa chọn là quê hương tác giả - một vùng quê nằm ở phía đông bắc của tỉnh Cao Bằng - hiện ra, vừa duyên dáng e ấp, vừa lồ lộ, rỡ ràng. Từng bài, từng trang, từng dòng cuốn hút người đọc vào một niềm say mê chiêm ngưỡng, hối thúc khát khao thưởng thức. Để rồi khi đọc xong, dư vị ngọt ngào đọng lại trong lòng cùng nụ cười hài lòng tươi nở trên môi.

Nhà thơ Y Phương cùng các nhà văn tại thành phố Lạng Sơn.

Cả một hệ thống những cái tết dân tộc được tác giả giới thiệu bằng sự háo hức, vui thích, khiến nó rộn ràng trong lòng bạn đọc. Tết tháng Giêng (Tết anh cả) với sự chuẩn bị công phu và sự đón chờ từ nửa năm trước. Tết Thanh minh (lễ tảo mộ 3/3 âm lịch) - dịp quy tụ con cháu về với quê hương gốc gác - được đặc tả bằng những nét riêng: “ Tết tảo mộ diễn ra giữa tiết trời ấm áp, khí núi thanh sạch, lòng người thanh thản. Mùa màng đang giữa thì thư thả. Vào cữ này, gió mùa xuân hây hẩy vừa đi. Nắng mùa hè nứng nóng đang đến gần. Bóng người thân nghiêng nghiêng vào đến ngõ.” Rồi Tết tháng Năm ăn thịt chó, Tết tháng Bảy với món vịt quay, Tết Cốm mới dưới đêm trăng rằm và nhịp chày khoẻ khoắn, nhịp nhàng của những chàng trai núi ...

Qua việc điểm tết, tác giả làm nổi lên những nét văn hoá đã trở nên cổ xưa rất đáng quý của các tộc người miền núi. Trong Tết Nguyên đán, người Tày có tục cư xử rất riêng với những ý niệm thiêng liêng: “Mùa xuân là đứa trẻ sơ sinh. Vì thế ngày này người ta không nói to, nói xẵng hoặc bẳn gắt. Trong nhà không được làm ồn. Không phơi phóng. Không quét tước. Không sang nhà người khác. Ai cũng nở nụ cười vui vẻ thường trực.” Đặc biệt, tác giả đưa ra một cách nhìn nhận khá trái ngược với quan niệm phổ biến của nhiều người, nhiều nơi khác là kiêng kị đàn bà con gái xông đất, xông nhà: “Nhà ai có khách là đàn bà con gái đến chúc tết đầu tiên, năm ấy sẽ ăn nên làm ra, mua một bán mười. Bởi đàn bà con gái là giống má. Là mùa màng, là no ấm. Mùa màng đến xông đất thì còn gì may mắn bằng.”

Tô điểm cho cái Tết tháng Giêng thêm đẹp, thêm thi vị là các cô dâu Tày. Tác giả gọi họ là “mùa xuân của mùa xuân, mùa xuân trong mùa xuân... họ đi đi, họ về về trong im lặng. Họ ở đâu, ngồi chỗ nào cũng lấp lánh sáng.” Đó là các cô dâu mới về nhà chồng, hưởng cái tết năm mới đầu tiên ở nhà chồng. Dáng vẻ kín đáo, giữ gìn, e thẹn của họ trong bộ áo chàm mới tinh với bộ dây bạc sáng lấp lánh cài khéo bên hông luôn là tâm điểm của mọi ánh nhìn nâng niu, ngưỡng mộ.

Trong niềm vui đón tết, thưởng tết, tục chơi chữ, thưởng thơ là một nét đẹp khó quên. Từ những ngày chợ tết, các ông hay chữ đã mang bút nghiên ra chợ, vừa viết vừa bày bán những con chữ có hồn: “Chữ Phúc màu nâu non, tặng cho người bốn chín, cái tuổi đang vượng, nên bụng phải to, nét chân tay phải mập. Chữ Thọ màu đỏ thẫm, biếu tặng người sáu mốt, cái tuổi đang chín chắn, nhưng chưa hẳn già. Nét chữ đằm, rắn rỏi, cứng cáp, màu sắc trầm ấm. Chữ Khang màu vàng cam, hiến tặng người bảy ba, cái tuổi xưa nay hiếm, nét chữ hao gầy, nhưng không được buồn. Chữ Ninh, màu tím than, dâng lên bậc trưởng lão, tám lăm tuổi. Nét chữ bay bướm, màu sắc tươi rói, hồn nhiên như trẻ lại. Kỳ ri thọ, màu đen tuyền, mừng cho người sống ngang trời đất. Bạn bè của mây trắng, mây vàng, trăng sao... Viết xong chữ nào, thầy treo lên chữ ấy. Chữ phơi trong nắng mai, làm sáng bừng lung linh suốt mấy dãy phố dài.” (Khai pác kin gò).

Viết về tết quê, tác giả sa vào niềm say sưa, háo hức: “người lèn người chặt chẹt đến nỗi lồi cả bốn mắt cá chân. Một rừng người lao xao vừa đi vừa chào. Ai cũng diện áo mới, quần mới, khăn mũ mới, giày dép mới... khắp nơi bay ra mùi chàm thơm nức nở... các chị em đeo vòng bạc, dây xà tích, túi đựng trầu bằng thổ cẩm” (Đi chợ nhìn người).

Quả còn ngày xuân qua ngòi bút và sự hình dung của tác giả rất sống động, giàu ý nghĩa: “... quả còn chắp mười hai mâm vải. Mỗi mâm vải có bốn màu. Mỗi màu là một mùa. Hồng - mùa xuân. Trắng - mùa hạ.Vàng - mùa thu. Đỏ bã trầu - mùa đông.”

Ẩm thực Cao Bằng có sắc màu, đặc trưng không lẫn nơi nào. Các món ăn miền núi thường gắn với các dịp lễ tết, với thời lịch nông vụ. Tháng ba, trong lễ Tảo mộ, những món ăn cầu kì, sang trọng, đẹp mắt được bà con nơi đây chế biến và dâng lên tiên tổ bằng cả tấm lòng thành kính: Lợn sữa quay nhồi lá mác mật; xôi ngũ sắc làm từ gạo nếp cái hoa vàng được nhuộm bằng các loại cây cỏ: “Có thứ lá chắm ché đem giã lấy nước, cho màu xanh cổ vịt. Có thứ hoa bjoóc phón cho nước màu vàng cam. Có thứ củ cây ngô đồng cho màu đỏ tiết dê. Nhưng đặc biệt nhất là màu lá xau xau. Thứ lá cho nước màu đen nhưng nhức...” (Thanh minh trong tiết tháng ba). Món bánh trứng kiến cũng được làm trong dịp này. “ Trứng kiến lấy về làm sạch cho vào chõ hấp chín. Bỏ trứng ra cho vào chảo xào mỡ gà. Mỡ gà cho mùi thơm, ngậy. Còn trứng kiến cho màu óng vàng. Khi nặn thành bánh, người ta cho trứng làm nhân. Khi ăn thấy bùi và có cảm giác có nóng đang bò loang ra trên mặt...”. Rồi món “cá trầm hương rán vàng”, món gà trống thiến... Món măng vầu hấp thịt nạc trộn nấm hương cũng là món ăn lạ, mà tác giả gọi là món khá đặc biệt, bởi nó được làm từ những củ măng chưa nhú khỏi đất, những củ măng đang thai...tất cả các món ăn được bày trên mâm cỗ cúng, biểu hiện tấm lòng thành kính vô biên và đức hiếu nghĩa vẹn tròn của cháu con đối với người đã khuất.

Tết Vía trâu Tháng sáu (gọi là Tết Khoăn wài hay Slo Lộc), bà con Rửa cày bừa bằng cái tết thanh đạm hơn  nhưng cũng đủ “rượu nếp cẩm, bún thang, xôi vò, thịt ngan béo, thịt lợn quay. Nhà nào cũng chuẩn bị một con cáy tắc (gà giò) luộc kĩ, dành hẳn cho lũ trẻ chăn trâu.”

Thưởng thức món cốm Trùng khánh vào Rằm Tháng bảy (Trung thu), bạn sẽ ăn cốm với hạt dẻ, một thứ đặc sản của Trùng Khánh, ngọt và thơm ngậy mà tác giả gọi đó là thứ hạt dẻ “xịn”: “Hạt dẻ luộc chín, cho vào cối giã mịn. Cốm vừa làm xong, hãy còn ấm nóng. Mang hai thứ ấy trộn lẫn với nhau. Để một lúc, chờ cho cốm ngấm hương hạt dẻ. Nhón mấy hạt thả vào miệng, chiêu thêm ngụm nước trà gừng. Bạn sẽ thấy cốm có vị cay vừa phải. Cốm đang đảo qua đảo lại trên lưỡi bạn. Đảo tới đâu thơm tới đó. Nếu đổ cốm trộn hạt dẻ vào khuôn ép, mấy tiếng sau sẽ cho một thứ bánh dẻo mềm như kẹo gôm. Ăn đến no mà chả sợ bị đầy bụng.” (Về Trùng Khánh mà nghe hạt dẻ)

Ẩm thực Cao Bằng còn là những món ăn thường nhật như bánh cuốn, bánh áp chao, xôi trám đen... món nào cũng thơm ngon, hấp dẫn trong sự thưởng thức trân trọng, nhiệt tình, luôn lồng trong đó sự liên tưởng kì diệu về tình người, tình quê của nhà văn: “Ăn bánh áp chao là ăn cái tình chị em gái. Nó cứ áp dính vào nhau làm một như keo. Thật khó lòng chia lìa. Chẳng thể nào dùng răng nghiền nát bánh trong khoang miệng. Cái đậm đà ngọt ngào quyện vào nhau, từ từ trôi vào cổ họng. Trôi tới đâu nóng bừng tới đó...” (Ăn bánh áp chao mà nhìn thấu ruột)...

Một số phong tục được giới thiệu trong niềm tự hào, yêu quý. Với tình yêu thương, trân trọng sâu sắc con trẻ và phụ nữ, nhà văn đã tái hiện lại cảnh thăm gái đẻ trong tháng cữ và ngày lễ đầy tháng của đứa con đầu lòng: “Sau khi sản phụ sinh con, thường là con đầu lòng được vài ngày, họ hàng bên ngoại nhằm vào các ngày  Đại cát, Đại an lại gặp cung Hồng loan, Thiên hỉ, Văn xương, Văn khúc... trong tháng để đến thăm cháu...”; ngày lễ đầy tháng thì: “Quà cáp thường gồm một đôi gà mái tơ hoặc trống choai, ba đến năm ống gạo nếp cái hoa vàng, một cái địu thổ cẩm, một cái nôi đan bằng tre có mắt hình lục giác...”. Cảnh đón tiếp của nhà nội đối với nhà ngoại cũng đầy sự trân trọng: “Chuẩn bị khăn bông hoa lau mặt, chậu nước rửa chân cho khách. Nước rửa chân phải rắc thêm mấy cánh hoa bjoóc loỏng cho thơm...”. Thức dùng trong lễ đầy tháng không thể thiếu được món chỉ định là món xin thang, đó là món “ canh thịt gà tẩm nghệ non với gừng già, lòng, phèo, gan, tiết lợn, pha một chút rượu trắng, một chút hương hoa hồi, một chút thảo quả..(Dzương eng, tục thăm gái đẻ).

Tục ngâm chàm nhuộm vải, tục kết bạn tồng, một số nghề thủ công mĩ nghệ như làm chiếu trúc, hài xảo... được nhà văn nói đến với sự trân trọng, thán phục và cả nỗi tiếc nuối trước sự mai một của nó trong dòng chảy hiện đại.

Nói về văn hoá quê hương, nhà văn không giấu nổi tình yêu mãnh liệt và nỗi nhớ da diết: “... đàn ông làng tôi có giọng trầm và ấm. Khi nghe họ nói họ cười, giọng vang như ca sĩ hát opera chuyên nghiệp. Còn con gái thì da trắng hồng. Người thơm như múi mít. Đến hơi thở của họ cũng truyền đời quyến rũ đàn ông. Tiếng lượn tiếng hát của các cô gái chàng trai thì đầy ma lực. Nó cuốn hút người nghe. Làm mê đắm người xem. Làm mềm lòng cha mẹ. Tưới cho cây cối và lúc lỉu quả ngọt.” (Đố bên nào ném thủng hồng tâm). Tình người được đặc biệt đề cao trong các bài viết. Có khi được gửi gắm qua cái nhìn của nhân vật: “Ở trên đời, cái tình người là đáng giá nhất, quý giá nhất. Cái tình người có muốn mua cũng không ai bán. Xin không ai cho. Cái tình người như gió mát ngày hè, như lửa ấm mùa đông, như hơi thở người thân.” (Bà phò). Coi trọng cái tình là đặc điểm chung của người Việt Nam, nó cũng là nét tính cách nổi bật của người miền núi. Đề cao cái tình, con người thấm thía ân nghĩa, ghi lòng tạc dạ những tấm lòng, những việc làm tốt người khác dành cho mình. Nói về văn hoá miền núi, văn hoá quê hương bằng thể loại tản văn, Y Phương đã thể hiện xuất sắc tính chất tản văn - tản mạn, móc nối tài tình, dí dỏm từ chuyện này sang chuyện khác mà vẫn giữ mối liên kết chặt chẽ.

Với tập tản văn này, nhà thơ đã góp vào thể loại tản văn vẻ đẹp và sức hút khó cưỡng, góp phần khẳng định ưu thế của thể loại văn chương khá mới mẻ này.

Thu Bình

Trường Cao đẳng Sư phạm tỉnh

 

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh