Thời trẻ trâu

Chủ nhật 29/04/2018 08:00

Tôi xa quê hương Trùng Khánh vừa tròn năm mươi năm. Tự nhiên, hôm nay tôi lại nhớ đến cái thuở chăn trâu cắt cỏ ở trong thung lũng Kéo Tác. Nỗi nhớ hiện lên như một đoạn phim mờ nhòe. Hình ảnh bơi đi cực chậm cực chậm. Màu sắc hình khối chảy về khi tối khi sáng.

Minh họa: Ích Hiệp

Đây rồi, thung lũng Kéo Tác nằm lọt thỏm trong vòng quây núi đá vôi, rừng cây mác mật, mác muông xanh rờn. Nơi người làng mình trồng bạt ngàn toàn khoai lang tím. Dây khoai lang bò chơi chơi trong chân bầy trẻ trâu. Núi rừng đang ngút ngứt ngủ say, bỗng chốc phải bừng tỉnh giấc, vì bọn trẻ mải mê đùa nghịch. Nhưng núi cũng kịp mở mắt rồi. Núi ôm ròa lấy khăn bông mây mà lau mặt. Núi rừng cười nghiêng nghiêng ngất ngất. Râu tóc núi mượt xanh.
Ôi, tôi nhớ cái ngày xưa thời trẻ trâu của mình, sao mà đẹp lung linh thế, hồn nhiên thế. Nếu bây giờ được làm lại… Đến như trâu bò cũng biết ngoan ngoãn nghe lời người lớn. Chúng nó cắm cúi mài sừng gặm cỏ nhả nhùng xoàn roạt xoàn roạt. Cỏ nhả nhùng dính đầy hai hàm răng xanh lè. Còn cỏ hạt ké thì găm vào lông đuôi, làm nó khó chịu. Trâu vung mãi vẩy hoài mà hạt ké không chịu rơi ra. Trâu do bọn trẻ chăn dắt từ nhiều năm, nên chúng khôn như người. Trâu nhà nào thì mang tính tình chủ nhân nhà nấy. Thế mới tài chứ. Đến súc vật mà cũng có cá tính.
Trâu làng mình mà đi húc đọ với trâu làng khác, cầm thua là cái chắc. Mặc dầu con nào con nấy cao to, vâm váp như hổ như voi. Người làng mình có thói quen nhường nhịn. Nên trâu bò cũng lành hiền và chịu nhận thua thiệt về mình.
Nhường nhịn là đức tính tốt đẹp từ đời ông tổ. Chả thế mà ngày nay còn có cánh đồng mang tên tổng Nhượng Bạn. Có đám ruộng mang tên Nà Slâm. Nà Slâm nghĩa là đám ruộng có trái tim. Trái tim biết phải trái, biết đến đâu là đủ. Cái ngưỡng của lòng người chỉ bấy nhiêu thôi.
Vào cái tuổi này, tôi chợt nghĩ, con cái chúng mình bị thua thiệt quá nhiều, so với thời trước. Chúng nó sinh ra và lớn lên trong lòng thành thị, nên bọn trẻ chả bao giờ có cái thú được chăn trâu cắt cỏ, được đốt lửa trên các cánh đồng sau vụ gặt. Chúng chả bao giờ được chơi trò đánh trận giả. Chơi cướp cờ. Chơi khênh kiệu “quan lớn” về làng. Quan lớn đội mũ cánh chuồn làm bằng lá chít. Rồi đùng đùng quan lớn đòi tắm bùn. Lập tức bùn được bôi trét lên trên người quan lớn. Được tắm bùn, loài người như được trở về nguồn cội. Bùn là quê hương, là gốc gác nông tang của loài người. Tuy rằng bùn bốc mùi tanh ngái ngái, nhưng trên mặt bùn, váng nổi lên đẹp như vân gỗ cẩm lai. Váng bùn tự do bơi đi đi, tự do xoay lại lại, tự do neo đậu, tự do kết dính. Nên bùn có vẻ đẹp tự nhiên.
Nhớ những khi mình được dịp đi ngay qua đây, đều cố lấy hơi hít vào lòng thật sâu, và thở ra thật từ từ, cái mùi bùn non của đồng ruộng. Tôi thấy trong mình cả một thời trẻ trâu. Trẻ trâu thì phải có mùi tanh của bùn. Vì thế, bùn đất và trẻ con là anh em sinh đôi. Bùn là bài ca no ấm của loài người. Vì thế mình luôn có cái để mà viết.
Hồi ấy bọn tôi thích bày trò làm dziều mằn. Cái từ dziều mằn mà tôi không sao dịch ra tiếng Kinh được. Nó giống như hỏa lò. Nó được làm bằng những hòn đất ruộng đã khô cong. Xếp chúng vào làm thành hình một chiếc nón. Chiếc nón úp xuống đất, gọi là dziều mằn. Xếp xong rồi thì ta chất củi vào đun. Đun cho đến chừng nào thấy từng hòn đất chín nục như than hồng. Ta nhanh chóng tuồn khoai lang vào trong. Ta lấy que khều nó xuống. Ta đập cho nó tơi ra. Hơi nóng từ đất sẽ lan truyền qua lần vỏ. Đến từng ngõ ngách tâm hồn củ khoai. Khoai chín tới gan ruột, mềm nhừ mà củ khoai không bị cháy xém. Chao ơi! Mùi khoai nướng gợi ta nhớ tới mùa đông. Bây giờ, mùi khoai nướng từ núi tràn xuống đồng bằng. Từ làng quê, mùi khoai nướng tràn vào thành phố. Nghĩa là mùa đông đi đến đâu, mùi thơm khoai nướng bay theo tới đó.
Khi mặt trời tụt dốc, cũng là lúc khoai lang bắt đầu lên mùi mía lùi. Mùi khoai nướng đánh thức các cơ quan khứu giác, vị giác, đồng loạt đòi ăn. Trời ơi! Ăn cái thứ này ngọt từ kẽ răng ngọt xuống đến gót chân. Thơm từ vải áo chàm đến chiếc móng tay. Ăn từ từ thôi kẻo bỏng rát, kẻo méo cả mồm lẫn miệng. Dặn là dặn thế, nhưng kia kìa, nó đã bỏng lên đến hai dái tai. Hai dái tai rung rinh sáng như hai nụ điện. Ngon quá. Ngon đến mức cắt hai màng tai rơi ra mà không biết đau.
Hằng năm, tôi vẫn háo hức lên lịch về thăm quê. Lần nào tôi cũng tha xuống thành phố bao bố khoai lang tím. Nhìn những củ khoai lạ lẫm ngơ ngác. Củ nào cũng im thin thít, không dám thở. Khoai làm tôi tủi thân. Khoai làm hăn hắt buồn cho cả nhà.
Tôi bỏ khoai ra nằm la liệt trên nền gạch hoa lạnh toát. Tôi biết chúng đang nhớ đất, nhớ làng. Lòng dạ tôi khi đó bứt rứt không yên. Tại mình mà ra nông nỗi này. Những củ khoai lang quê mùa, buộc phải xa nhà theo mình xuống đây ăn nằm vật vạ. Giống như chúng mình phải sống chen chúc cái gọi là nơi phồn hoa đô hội.
Bây giờ, thấy mật khoai rỉ ra. Tôi bảo đấy là nước mắt người nhà quê. Khóc ở trong lòng nên khoai nó ngọt. Nó ngọt mà làm đứt từng đoạn ruột. Khổ cái thằng làm nghề viết lách, tôi cứ hay nghĩ ngợi liên tưởng.
Khi viết những dòng này, tôi càng nhớ da diết cái làng Hiếu Lễ nghèo nàn của cải, nhưng giàu có về tâm hồn, về lòng nhân ái. Ở đấy chúng tôi được sinh ra và lớn lên, có chẵn mười năm làm trẻ trâu. Trẻ trâu là quãng đời thủm thẳm ngấu mùi bè bạn.        

Y Phương

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh