Theo cánh hoa Pơ Lang

Thứ bảy 06/04/2019 05:00

Biết tôi có chuyến công tác vào Tây Nguyên dài ngày, chị dâu ở trên quê vội đi xuống nhà nói như giao nhiệm vụ: Chú đi chuyến này phải cố tìm bằng được anh Phình cho chị, người đâu mà cứ đi biệt tăm biệt tích, bỏ mặc  nhà cửa mười mấy năm nay, có còn coi vợ con là gì nữa không biết? 

Sắc hoa Pơ Lang. Ảnh: T.V

Anh Phình là con ông bác của tôi đi bộ đội từ năm 1968 khi tôi mới 10 tuổi, lại ở khác làng khác xã. Tôi lớn lên đi học rồi công tác xa nhà. Anh em tôi chỉ mới được gặp và nói chuyện với nhau một đôi lần vào năm 1980 khi anh về chịu tang mẹ, người mà tôi gọi bằng bà bá. Nghe nói lần ấy anh chị cãi nhau về chuyện con cái, bà chị thì bảo thằng Phán chính là con của anh Phình; nhưng bà con hàng xóm lại nói là không phải. Anh Phình buồn bã bỏ nhà đi vào Tây Nguyên, nơi chiến trường xưa anh từng chiến đấu.   
Vào đến Buôn Mê Thuột, tôi tìm ngay đến Hơ Blem, người con gái Ê đê đang công tác ở Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh. Tôi với Hơ Blem từng có những kỷ niệm đẹp suốt 5 năm học ở trường  cấp 2 - 3 Nà Giàng. Những năm sơ tán, Trường dân tộc miền Nam chuyển từ Chi Nê, Lạc Thủy, Hòa Bình lên đóng ngay cạnh làng tôi. Tôi hơn Blem một tuổi, cùng vào học lớp 5, cô Khương chủ nhiệm phân công tôi ngồi cạnh Blem, cô bảo để giúp Blem học thêm tiếng Tày, Nùng.
Năm học cuối cấp 3, cũng như mọi lần trên đường từ rừng về, hai đứa tôi lại ngồi nghỉ bên gốc cây gạo ở đầu nguồn con suối. Dòng nước trong vắt, mát rượi từ trong chân núi tuôn ra rì rầm, len lỏi qua những chỏm đá xanh rì. Đang tiết tháng 3, hoa gạo đỏ rực cả một góc trời, gặp cơn gió nhẹ, những chùm hoa rơi xuống vi vu nhuộm đỏ cả lòng suối. Nhìn suối hoa bồng bềnh trôi theo dòng nước, tự nhiên Blem buột miệng nói: Sau này anh sẽ đi đâu? Câu hỏi làm tôi bất ngờ, bởi lần đầu tiên Blem thay đổi cách xưng hô gọi tôi bằng anh. Tôi vội vàng trả lời: Mình sẽ đi bộ đội chiến đấu giải phóng miền Nam!
- Có thật không? Lúc ấy em cũng sẽ về và đưa anh đi thăm buôn làng Ê đê, xem những cánh rừng đầy hoa Pơ Lang. Anh có biết không đó chính là hoa gạo đang nở đỏ ngay trước mặt ta đấy…
Mùa xuân năm ấy thời gian trôi nhanh, nhiều sự kiện diễn ra dồn dập, Tháng 3 Tây Nguyên rồi Huế, Đà Nẵng, Nha Trang và 30/4/1975 Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh hoàn toàn giải phóng; bố mẹ Blem được lệnh trở về miền Nam. Blem ở lại vì đang dang dở kỳ thi tốt nghiệp lớp 10. Chúng tôi càng có dịp gần gũi nhau hơn. Sau đó tôi vào Đại học Tổng hợp Hà Nội, Blem đi  Sư phạm Thái Nguyên. Tốt nghiệp ra trường khi cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc vừa mới kết thúc, mẹ tôi thân già một mình dựng tạm túp lều ở ngay chân núi, ngày đêm khắc khoải mong chờ… tôi phải về quê.
Blem học ở Thái Nguyên một năm sau thì chuyển vào Tây Nguyên, ra  trường về dạy học ở buôn làng nơi vùng quê xa lắc cuối huyện Krông Ana. Gần 10 năm sau người ta mới phát hiện Blem biết hai thứ tiếng Ê Đê và tiếng Tày, lại có ngoại hình sắc nét và chất giọng truyền cảm nên mời về thành phố làm biên tập kiêm Phát thanh viên Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh. Đến 35 tuổi, Blem mới lấy chồng là thương binh chuyển ngành, hơn gần chục tuổi. Dẫu có một chút muộn mằn nhưng đôi vợ chồng cũng đã kịp sinh được một đứa con trai khỏe mạnh. Mái ấm gia đình được vun đắp dựng xây trong con hẻm nhỏ, bên phố Cù Chính Lan.
Gặp nhau sau nhiều năm dài xa cách, câu chuyện của chúng tôi tưởng chừng như không muốn dứt. Nhưng lại một lần nữa cũng rất tự nhiên và chủ động, Blem ngước mắt nhìn tôi trìu mến, vẫn đôi mắt sáng long lanh thân thiện ngày nào: Anh nhớ không, người ta vẫn nói: Đời người có ai tắm được hai lần trên một dòng sông? Con nguời ta có long đong lận đận âu cũng là do duyên số. Thôi tạm gác chuyện mình đi, bây giờ ta  bàn về chuyện của anh chị. Em thấy khó đấy. Trước hết em sẽ giúp anh đăng tải thông tin trên Đài Phát thanh - Truyền hình. Nhưng nếu anh ấy đã có ý trốn tránh thì cũng không hy vọng lắm đâu. Tôi hiểu câu nói lấp lửng của Blem có ý trách tôi một cách tế nhị nhẹ nhàng. Nhưng Blem nói tiếp: Còn một cách nữa là có thể lần theo các mối quan hệ thân quen. Anh còn nhớ chị Hơ Blang không? Chị cùng với anh Su Ra đóng phim Rừng Xà Nu dựng cảnh ở ngay làng anh đấy.
- Ờ nhớ chứ! Hồi ấy bọn mình còn đi xem dựng nhà Rông trên đồi Pò Lót và đốt đuốc cho cảnh quay ban đêm từ đèo Phja Đeng xuống, chị Blang đánh đàn Tơ rưng.  
- Vâng chị Blang hồi đấy là hoa khôi, chị ấy lấy chồng ngoài Bắc, hiện đang sống ở Krông Ana, ta thử đến đấy hỏi thăm xem sao.   
Hết con đường trải nhựa lại đến đường đất đỏ, vượt qua những đồi cà phê chạy dài bên chân dãy núi Chư Yang Sinh hùng vĩ, chúng tôi đến buôn Đur Kmau, cái tên nghe lạ lẫm khó đọc… Tôi choáng ngợp khi đứng trước ngôi làng có 5, 6 ngôi nhà sàn Ê đê sâu thăm thẳm 8 - 9 gian dài phải đến hơn hai chục mét, xung quanh có gần chục cây gạo cao vút xum xuê, làm cho không gian thêm vẻ trầm mặc huyền bí. Blem bảo cây Pơ Lang đấy, người Tây Nguyên thường lấy cây Pơ Lang làm cọc cắm cây nêu ngày Tết. Sau Tết, cây mọc mầm chồi lên nên buôn làng nào cũng có vài cây Pơ Lang. Theo sử thi, Pơ Lang là loài hoa tượng trưng cho tình yêu.
Đến dưới sân một ngôi nhà sàn nằm bên một gốc cây gạo cao to, Blem cất tiếng gọi: Ơ chị Blang có khách nè. Một lúc sau cánh cửa chính phía đầu hồi mở ra; người phụ nữ có thân hình thon lẳn, thanh thoát với chiếc váy lửng chớm đến đầu gối bước ra ngoài hiên. Ui cha Blem! Sao mấy năm rồi mới về, chị nhớ nhiều lắm đó. Lên nhà đi.
Tôi theo Blem nhẹ nhàng bước lên bậc cầu thang. Sàn gỗ rộng thêng thang, bốn vách bưng bằng gỗ, xung quanh trổ những ô cửa sổ hình hoa năm cánh. Nghe có khách đến, người đàn ông ngồi trên chiếc xe lăn tự mình đẩy bánh đi ra, hai chân buông thõng mềm oặt, khuôn mặt khắc khổ suy tư. Nhưng vầng trán dô và cặp lông mày rậm xếch thì vẫn y nguyên ngày nào. Tôi sững sờ và thảng thốt kêu lên: Anh Phình! Em là Trang đây.
Người đàn ông giơ ngón tay trỏ lên trán như để lục tìm ký ức: Trang à… Trang ở Nà Giàng à.
- Vâng Trang Nà Giàng, con chú Thời Thiết đây.
- Ôi ngọn gió nào đưa chú đến đây!...
Tôi lao vào ôm chầm lấy anh. Hai người đàn ông vỗ vai vỗ lưng nhau, tôi muốn òa lên khóc. Hai người phụ nữ hết nhìn nhau lại nhìn chúng tôi ngơ ngác… Phải chăng hơi ấm của dòng máu mủ ruột rà đã cho tôi được gặp anh suôn sẻ đến thế.
Qua giây phút bất ngờ Blem mới có dịp lên tiếng: Anh Trang cùng học với em từ hồi ở Nà Giàng, mấy hôm vào đây công tác nhân tiện ghé thăm anh chị luôn.
Chị Blang nhìn tôi thân thiện: Từ lâu chị đã nghe anh nhắc đến tên em bây giờ mới được gặp. Bao lần anh chị muốn ra Bắc thăm anh em họ hàng nhưng lần nào cũng bị bỏ dở bởi sức khỏe của anh thất thường, trí nhớ lúc tỉnh lúc không. Mấy năm nay thì đôi chân lại liệt hẳn... Anh chị cưới nhau qua 20 mùa rẫy; con trai lớn đã đi bộ đội đóng quân bên Lâm Đồng. Đứa thứ 2 là con gái không may bị thiểu năng trí tuệ do ảnh hưởng từ bố bị nhiễm chất độc da cam/điôxin, cháu được nhà nước đưa vào trường nuôi dưỡng trẻ khuyết tật của tỉnh. Cuộc sống vật lộn với bao đau thương mất mát càng làm cho anh chị thêm nặng lòng với nhau. Có lẽ cũng là do duyên tiền định. Nói đến đây chị lặng lẽ quay đi gạt dòng nước mắt, đứng dậy vào phòng ngủ lấy ra quyển sổ nhỏ bằng bàn tay, gáy bìa nhàu nát.
Cầm quyển sổ trên tay, anh Phình bảo: Đây là cuốn sổ chị tặng anh ngày nhập ngũ. Rồi anh giở trang đầu tiên cho tôi xem dòng chữ ngắn gọn: Có thương nhau xin nhớ lời/Blang 3/6/1968.
Những trang tiếp theo chủ yếu ghi chép ngày tháng, địa danh hành quân và những chuyện riêng tư, nét mực đã nhòe ra loang lổ. Lật đến trang ghi ngày 10/3/1975 với vài ký hiệu viết tắt: BMT B72 c2/198, kho Mai Hắc Đế, anh Phình dừng lại nói với  giọng trầm buồn: Đây là ngày quân ta mở màn đánh vào Buôn Mê Thuột; Đại đội hỏa lực B72, Trung đoàn đặc công 198 có nhiệm vụ đột phá khu kho Mai Hắc Đế, mở cửa hướng Tây Bắc đánh chiếm căn cứ Sư đoàn 23 ngụy. Càng vào sâu địch càng phản kích quyết liệt, cả đại đội bị thương và hy sinh quá nửa. Anh bị đạn pháo hất xuống hào tăng…
 Mặt trời đã gần lên đến đỉnh cây gạo, hai người phụ nữ đi ra ngoài vườn nhặt rau chuẩn bị nấu cơm, tôi mới dám hỏi anh về chuyện vợ con ở quê theo đúng những lời bà chị đã nói lại. Anh bảo đấy là chuyện rắc rối phức tạp hơn cả chiến tranh. Đúng là gia đình có làm đám cưới, dù anh không đồng ý vẫn phải làm trong vòng có 10 ngày phép. Rồi anh lại giở quyển sổ nhật ký chỉ rõ các mốc thời gian. Đây chú xem: Ngày 20/9/1968, anh đi Nam; 26/12 vào đến Tây Nguyên… Ở nhà tháng 9 năm sau bà ấy mới sinh con thì sao có thể nói là con anh được. Chuyện này đã làm cả nhà anh rất đau buồn. Năm 1980, anh ở trại điều dưỡng về chịu tang mẹ và giải quyết việc gia đình, bà ấy khăng khăng không chịu…
 Nói đến đây thì hai người phụ nữ trở về với rổ rau và bó củi trên tay. Chị Blang lượm thêm củi chất vào bếp. Bếp đang đượm than hồng nên ngọn lửa bén rất nhanh reo lên phần phật. Bỗng tôi có cảm giác hình như Blem đã nói chị  Blang biết câu chuyện về chuyến thăm của tôi. Nhưng có lẽ với bản lĩnh của một người phụ nữ từng trải, chị rất bình tĩnh, chủ động và cuộc hội ngộ tự nhiên càng trở nên thân tình ấm áp. Chị bắt đầu câu chuyện:
 Anh chị cũng học với nhau ở Nà Giàng. Giữa năm 1968, anh đi bộ đội thì cuối năm chị đi học trường Y. Ra trường được phân công theo một trạm phẫu thuật tiền phương vào miền Nam. Cùng ở chiến trường Tây Nguyên nhưng cũng chỉ gặp nhau qua thư từ… Ngày 12/3/1975 (2 ngày sau trận đánh mở màn), Trạm phẫu thuật chật ních thương binh. Khi  đưa anh Phình vào, chị không thể nhận ra vì từ đầu đến ngực anh quấn băng trắng toát trong trạng thái mê man bất tỉnh. Người ta bảo anh mới được bới lên từ dưới đất. 3 ngày sau anh mới mở mắt và được tháo băng. Nhận ra anh, chị đã khóc…
Những năm sau giải phóng, Trạm phẫu thuật chuyển thành Trung tâm điều dưỡng thương binh. Anh bị chấn thương sọ não nặng nên được giữ lại ở trại. Đến năm 1979 anh mới dần bình phục. Năm 1980, anh ra Bắc, tháng sau trở về cứ thẫn thờ như người mất hồn, hóa ra là vì chuyện gia đình... Được cấp trên cho phép, chị đưa anh về phòng riêng chăm sóc, một năm sau thì làm lễ cưới. Đám cưới đơn giản được tổ chức ngay trong trại. Năm 1990 chị được nghỉ chế độ, sau đó đưa nhau về quê. Ngôi nhà này cũng do anh em ở trại và bà con trong buôn giúp làm...
Lặng đi một lúc chị mới nói tiếp: Em về ngoài ấy cho anh chị hỏi thăm và xin lỗi bà con cô bác, anh em họ hàng. Đi qua chiến tranh có muôn vàn đau thương mất mát, gây ra bao cảnh chia ly, nhưng cũng làm cho nhiều nguời biết cảm thông, chia sẻ và gần gũi nhau hơn…
Cả 4 chúng tôi đều im lặng. Chỉ có tiếng ngọn lửa reo phần phật vô tư… Bất giác tôi ngẩng lên nhìn Blem. Như một luồng điện vô hình, Blem cũng ngước lên nhìn tôi rất nhanh rồi cúi xuống nhúc nhắc những thanh củi đang lụi dần gẩy nhẹ vào bếp. Trong ánh lửa, đôi má Blem ửng hồng…
Chiều về, Blem đưa tôi ra bên dòng sông Sê Rê Pốc, bên kia doi cát giữa dòng sông có cả một rừng cây Pơ Lang. Lại đúng tháng Ba, ở ngoài Bắc quê tôi lúc này hoa gạo vẫn đang nở đỏ. Còn ở đây Pơ Lang đã rụng hết. Tôi lặng nhìn theo doi cát giữa dòng sông, nơi mấy đứa trẻ thơ ríu rít tranh nhau nhặt bông gòn, quê tôi gọi là bông gạo, thứ bông gạo trắng muốt, mịn màng mà các cô gái vẫn hay lấy về nhồi làm gối bông tặng người  yêu.
Blem lại khe khẽ hát: Anh ơi em sẽ là Pơ Lang hoa đẹp nhất, thứ hoa buôn làng quý… Tây Nguyên này bao nhiêu cô gái đều là hoa Pơ Lang.                                 

Tùng Trang

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh