Phu Bia - Mường Trà mãi mãi trong tôi

Thứ bảy 19/08/2017 07:00

Đó là câu nói của nghệ sỹ nhiếp ảnh Chu Đức Hòa khi chia sẻ với các bạn đọc, bạn viết của mình về cuốn nhật ký “Một thời máu lửa” ấn hành cách đây gần 7 năm. Câu nói ấy gieo vào lòng tôi một niềm cảm mến, trân trọng và tự hào về người đồng chí, đồng nghiệp của mình đã từng “Một thời đạn bom, một thời hòa bình”.


Nghệ sỹ nhiếp ảnh Chu Đức Hòa (thứ 3 từ trái sang) nhận Giải thưởng văn học của Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam năm 2010.
Có lẽ, đối với bất cứ ai cũng vậy, dù gặp lần đầu hay đã quen lâu đều nhận được ở Chu Đức Hòa những nụ cười hóm hỉnh, vô tư sau cặp kính trắng và cứ ngỡ anh là một sinh viên vào đời từ giảng đường của một trường đại học nào đó! Chứ ít ai biết được rằng anh trưởng thành từ một người lính với hơn 10 năm xông pha trong bom đạn, máu lửa của quân thù khắp các chiến trường Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, rồi chiến trường Lào với hơn 100 trận chiến đấu lớn nhỏ đã mãi mãi đi vào ký ức của anh. 
Tiếp tôi tại nhà riêng của mình ở Phố Thầu, phường Hợp Giang (Thành phố), sau khi giới thiệu qua những bức ảnh về những thắng cảnh và con người Cao Bằng vừa đoạt giải quốc gia và quốc tế, anh với tay lấy cuốn nhật ký “Một thời máu lửa”, vừa lật lật những trang đầu vừa nói như một lời tự sự: Sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở chiến trường về, cũng như bao đồng chí, đồng đội khác, em phải lao vào cuộc mưu sinh. Bươn chải trong thời bao cấp, lo đủ bát cơm cho vợ con đã khó, lo tiền nong cho các con ăn học nên người còn gian nan, vất vả hơn nhiều. Khó khăn, chật vật là thế nhưng với ý chí của một người lính chiến, một anh “bộ đội Cụ Hồ”, em vẫn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ của cơ quan, để rồi cái ý chí vượt lên chính mình đã được đền đáp. Năm 2002, lần đầu tiên em mang tấm ảnh “Phiên chợ vùng cao” đi dự Liên hoan khu vực miền núi phía Bắc đã đoạt giải khuyến khích. Từ đó, “cái máu” làm ảnh ngấm vào em lúc nào cũng không biết! Sau nhiều lần được treo ảnh và đoạt giải tại các kỳ triển lãm khu vực cũng như toàn quốc và quốc tế, cái nghiệp chụp ảnh nghệ thuật đã trở thành niềm đam mê của em. Từ niềm đam mê này, em đã vinh dự được kết nạp vào hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Cao Bằng, hội viên Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, rồi hội viên Hội nghệ sỹ Nhiếp ảnh Việt Nam. 
Là hội viên chuyên nghề nhiếp ảnh, lo đủ tác phẩm trình làng đã khó, làm sao cho mỗi bức ảnh để lại dấu ấn trong lòng người xem còn khó hơn nhiều. Do đó, Hòa đã không ngừng học hỏi những thợ ảnh đàn anh về cách chọn đề tài, góc chụp, kỹ thuật xử lý ánh sáng... Nhờ vậy, những năm gần đây, hầu hết các tác phẩm của anh ra mắt đều nhận được lời tán dương, khen ngợi của bạn bè, đồng nghiệp. Đó là một phần thưởng lớn đối với anh. Nhưng ngẫm đi, nghĩ lại, nghề ảnh chỉ ghi lại được những gì thực tại đã và đang diễn ra, còn đối với quá khứ thì chịu bó tay, cho nên anh đã quyết định đi sâu thêm vào nghiệp văn, nghiệp báo và viết sách. Vì mình trưởng thành, cứng cỏi, vượt qua mọi sóng gió của cuộc đời như bây giờ là nhờ 10 năm đổ mồ hôi, nước mắt và cả máu ở nơi đạn bom ác liệt của các chiến trường miền Nam, Lào... Nếu không ghi lại được những năm tháng nhọc nhằn, gian khổ mà vinh quang ấy là mình có lỗi với chính mình, với đồng đội, với cả gia đình và con cháu mai sau. Từ những suy nghĩ sâu xa đó, 7 năm vừa qua, anh đã xuất bản thành công cuốn hồi ký “Một thời máu lửa” được bạn đọc gần xa trong và ngoài tỉnh khen ngợi. Anh đang chuẩn bị trình làng tập thơ “Phong hương mùa lá đỏ”. Vinh dự, tự hào hơn là trong 2 năm 2015 - 2016, anh đã có 5 tác phẩm ảnh nghệ thuật được tham dự triển lãm quốc tế tại Pháp và Italya. Điều mà giới nghệ sỹ nhiếp ảnh Cao Bằng chưa ai vươn tới, thật đáng tự hào. Như để chứng minh về sức hấp dẫn của cuốn hồi ký “Một thời máu lửa”, anh nói mà như kể: “Đại đội 5, thuộc Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 335, Binh đoàn 678 quân tình nguyện Việt Nam được giao nhiệm vụ trấn giữ, bảo vệ địa bàn Mường Trà, huyện Say Xỏn Bun của đơn vị bộ đội Pa-thet Lào. Đây là vùng chưa được giải phóng bởi sự manh động, liều lĩnh của tàn quân phỉ Vàng Pao. Biết quân ta vào thay chốt, các đồng chí bạn Lào rất mừng. Đồng chí chỉ huy ra bắt tay từng người và nói: Săm ba đi sa hải Việt Nam (Xin chào các đồng chí Việt Nam)! Mường Trà là một thảo nguyên tuyệt đẹp, xa xa là dãy núi trập trùng, vách đá dựng đứng, bên này là đồi cỏ mướt xanh, tít tắp bởi những mỏm đồi to, nhỏ như bát úp, rất giống cánh đồng Chum thu nhỏ. Con suối Mường Trà trong vắt, hiền hòa bắt nguồn từ dãy núi Phu Bia cao ngất, uốn lượn qua những khe núi mờ sương, y như một bức tranh thủy mặc... Em chỉ huy một bộ phận gồm 12 chiến sỹ quả cảm, nhanh nhẹn, lần đầu tiên xuất quân chủ động tiến công địch. Cả đơn vị chọn hướng Phu-Tu-Ngốc, ngược suối Mường Trà, đi sâu vào khe núi Phu Bia - một trong những sào huyệt của toán phỉ khét tiếng hung bạo”...
Ngưng một lát, chớp chớp mắt như đang thả hồn vào những kỷ niệm xa xăm, Chu Đức Hòa chậm rãi thả từng tiếng một: Anh biết không? Kể từ ngày rời quân ngũ về địa phương, cứ mỗi lần các phương tiện thông tin đại chúng nói về mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, em lại nôn nao nhớ về những tình cảm nồng ấm của bộ đội Pa - thet Lào và của các bộ tộc Lào đối với quân tình nguyện Việt Nam! Cho đến bây giờ, em vẫn nhớ như in những tên đất, tên làng vùng núi Phu Bia, Mường Trà, Phạ Olo, Nặm Mô, Nặm Dền... thuộc huyện Xay xỏm bun, tỉnh Viêng Chăn mà đơn vị em gắn bó ngót nghét 6 năm trời. Trên 6 năm sống giữa sự đùm bọc, yêu thương của đồng bào Lào-Sủng, Lào-Thơng, Lào Lùm, đơn vị em đã cùng các đơn vị bạn bám vào từng gốc cây, mô đá và từng chiến hào để tiêu diệt tàn quân phỉ Vàng Pao, bảo vệ cuộc sống yên bình của cả vùng Phu Bia, Mường Trà nói riêng và đất nước Lào nói chung. Trong 6 năm ấy, nếu kể các lần chạm trán, nổ súng dọc đường hành quân, thì phải tính tới hàng trăm trận đánh. Em không thể nào quên được cái đêm cả đơn vị bí mật tập kích vào Phu-Tu-Ngốc và hang Thẩm Khai - sào huyệt của tướng phỉ Say Sua Giàng khét tiếng liều lĩnh. Đang leo núi thì cả đại đội được lệnh dừng lại, thế là cả đơn vị đứng giữa vách đá dựng đứng, sắc nhọn. Một chân em bám chặt vào khe đá, chiếc ba lô treo vào mỏm đá tai mèo, không có chỗ mắc võng, cũng không có chỗ ngồi, sảy chân là ngã nhào xuống vực sâu. Vừa đói, vừa khát, vừa mệt. Miếng lương khô bỏ vào miệng đã bao lâu mà vẫn khô khốc không nuốt nổi đành phải nhè ra. Mặc cho muỗi đốt, chân đứng, chân co, em treo người vào sợi dây võng buộc quanh vai, đầu gục vào cánh tay bám vào mỏm đá, đau điếng thiếp đi. Trong giấc mơ, em thấy mình vục mặt xuống dòng nước, uống cạn cả khúc sông mà vẫn không hết khát. Đến 10 ngày sau, khi cuộc sống của người lính chiến trở lại bình thường nhưng cái cảm giác khô khát nơi cổ họng như vẫn chưa thôi. Ai mà không qua cái giây phút khắc nghiệt ấy thì sẽ không cảm được cái khát khủng khiếp này! Gần sáng, lệnh tấn công được phát ra, nhưng mọi lối mòn dẫn lên mục tiêu đều bị bọn phỉ bố phòng rất cẩn mật. Lợi dụng địa hình hiểm trở, chúng chống trả quyết liệt. Chiến sỹ đi đầu trúng đạn quỵ xuống, chiến sỹ đi sau xông lên, chạm ngay 2 tên phỉ trước mặt. Chúng nổ súng, anh bạn này ngã chúi về phía trước rơi xuống hõm núi, chỉ còn lại chiếc mũ mềm Pa thet trên mặt đường tiếp tục dính đạn thủng lỗ chỗ. Sau trận đánh, bao nhiêu đồng đội của em đã mãi mãi nằm lại trên đất bạn Lào!!! Từ đó đến nay và mãi mãi về sau cho đến lúc vào cõi vĩnh hằng chắc trong em sẽ không bao giờ phai nhòa hình ảnh của những đồng đội thân thiết sống chết có nhau ấy! Đó là Binh nhất Văn Nam, quê mãi Con Cuông, tỉnh Nghệ An; Lê Xuân Cơ, quê Vĩnh Phú, người Đại đội trưởng Đại đội 6 gan góc, dạn dày mà rất mực yêu thương chiến sỹ... Em không thể nào quên nghĩa trang Mường Trà, một nghĩa trang dã chiến, đơn sơ nhưng ở đấy có trên 100 đồng đội của mình đã mãi mãi nằm lại nơi thảo nguyên hoang sơ, hiu hắt mà sâu đậm nghĩa tình Lào - Việt này! Trước khi về nước, dẫu trong tay người lính trận không hoa, không cả hương, em vẫn đến chào vĩnh biệt các anh với nén hương lòng chan chứa tình đồng đội, chan chứa thương đau và từ nơi sâu thẳm của lòng mình, em cầu chúc họ mãi mãi thanh thản, yên bình trên đất bạn Lào anh hùng!
Nói đến đây, giọng anh bỗng lạc đi, nước mắt giọt nối giọt lăn trên gò má! Tôi chỉ biết ôm lấy vai anh lắc lắc: Có phải đấy là đỉnh cao của cơ cực, khổ đau, mất mát mà kiêu hùng! Đây cũng chính là giây phút chói sáng về chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam của người lính chiến không Hòa ơi! Hai chúng tôi mắt nhìn trong mắt, dẫu không nói với nhau được điều gì, nhưng tôi đọc được những suy nghĩ của Chu Đức Hòa: Ước gì vào dịp kỷ niệm 55 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1962 - 2017) và 40 năm ký kết Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Lào (1977 - 2017) được sang thăm đất bạn, thăm lại vùng Phu Bia, Mường Trà, Phạ Olo... để trong sự nghiệp sáng tác của mình có thêm những bài ký, vần thơ và những bức ảnh sống động, ngợi ca về sự đổi thay kỳ diệu của đất nước Triệu Voi, của vùng Phu Bia, Mường Trà, nơi mà máu anh và máu đồng đội của anh - những chiến sỹ tình nguyện Việt Nam đã thấm xuống từng gốc cây, ngọn cỏ, hõm đá, góp phần tô thắm thêm lá cờ đào của 2 nước, tô thắm thêm tình đoàn kết trong sáng, thủy chung và son sắt của 2 dân tộc Việt Nam - Lào anh em.
Chu Sĩ Liên

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh