Phở vịt

Chủ nhật 22/10/2017 07:00

 Khu đình chợ phố huyện mới được đầu tư, khang trang sáng sủa hẳn, đình cũ đã phá, nay được xây bằng ba dãy mới. Ban quản lý chợ phân khu rõ rệt. Đình một gần ủy ban thị trấn dành cho dân bán quà sáng. Đình hai ở giữa bán thịt bò, lợn. Đình ba xa nhất bán quần áo, vải. Sau khi quy hoạch rõ là đâu đã vào đấy không lộn xộn mua bán như trước nữa. Mái của ba khu đình đã được lợp tôn, cao ráo, nền lát bê tông không còn ổ gà, ổ lợn, nền đất như trước nữa.

Hàng phở tại Thị trấn huyện Trùng Khánh. Ảnh: Mác Kham

Khu bán củi buổi sáng thì vẫn vậy, tiện đâu ngồi đấy quanh đình chợ, miễn là chọn chỗ người đi lại mà ngồi, có vậy mới bán được nhanh. Dân bán củi chủ yếu ở ba xã biên giới: Ngọc Chung, Ngọc Khê và Phong Nặm, nơi núi đá nhiều, rừng nhiều, gỗ tốt, đun bếp thì cháy đượm, nhiều than. Dân phía đông Phong Châu chủ yếu củi đồi, dân thị trấn ít mua.

 

Chợ phố huyện nghèo nhưng hàng quà lại là hàng vui và đông nhất vào sáng sớm, rồi mới đến hàng củi. Cứ chừng năm giờ sáng người ta bắt gặp trên nền chợ là hàng quà và hàng củi. Người phố huyện tìm đến hàng củi chủ yếu tìm củi nghiến và củi pun, đun bếp cháy rực lửa lắm. Lấy được thứ củi đó phải trèo lên núi cao, vận chuyển về bổ phơi khô và để có được gánh củi mất cả tuần mới đến được thị trấn. Người bán củi gánh củi đi chợ bán thường đi từ bốn giờ sáng, khi mặt đất còn tối, sương còn nặng, mù mịt chưa tan, gánh củi đến chợ hửng sáng là vừa. 
Lại nói khu đình bán quà ăn sáng, nơi đó có đủ thức, nào bánh cuốn, bánh rán, bánh bò, bánh tẻ và sang nhất là hàng bún, phở. Phở có ba hàng chỉ thấy dân thị trấn ngồi ăn; chẳng là dân có tiền mà, ai cũng tự nghĩ vậy.
Bát phở ngày ấy có năm nghìn một bát, ngon nhất là phở cô Sầu, rồi mới đến cô Sáu, cô Hiệu. Phở vịt chỉ có ở phố huyện, mà thứ phở đó có “xuất thân” từ bánh tráng gạo tẻ, phơi khô, nhúng nước nóng cho mềm phở ra rồi cho hành, mì chính, mấy miếng thịt vịt chao là xong. Nghèo ít tiền được ăn phở là sang lắm, dân lấy củi ngày ấy chỉ nghĩ đến được ăn phở vịt như giấc mơ thôi.
Bố mẹ tôi thương các con lắm, biết con thèm phở nhưng cũng chỉ một tuần cho mấy anh em ăn một lần. Muốn được ăn phở phải có thành tích và luân phiên chứ đâu có thể ba anh em đi ăn một lúc. Tiền bố mẹ dành dụm là tiền chúng tôi nuôi gà bán trứng, trồng rau. Ngày ấy gia đình tôi như mọi gia đình phố huyện, chăm chỉ lao động, tiết kiệm nên phở quả là món ăn sáng xa xỉ.
Tối qua bố nói, mai cho tôi ăn phở cô Sầu. Bố thưởng tôi vì được hai điểm mười tuần học qua. Nghĩ mà lòng náo nức, chắc tuần tới em tôi mới được bố mẹ thưởng. Tôi chạnh lòng khi ăn một mình vì nghĩ các em tôi cũng giỏi và ngoan lắm.
Sáu giờ dậy ăn phở vịt, rồi bước bộ đến trường học như mọi khi, tôi dự tính thời gian như vậy. Sáng hôm nay trời rét hơn, gió đông bắc thổi mạnh, ven đường ra chợ sương muối phủ trắng lớp cỏ bên đường. Co ro trong chiếc áo bông cũ, tôi nhanh chân ra chợ. Nhìn lên mái đình mới, lớp tôn mỏng như cũng tê tái trắng sương hòa lẫn trong gió lạnh. Trời mờ sáng, ánh sáng chưa đủ lan tỏa và xóa tan cái rét bao phủ khắp nơi. Núi đồi chìm trong sương giá, im ắng, tất cả ai cũng lùi lũi đi trong cái rét cắt da.
- Cô ơi cho cháu một bát.
- Hôm nay bố mẹ thưởng phải không? Chờ tý nhé. Tay thoăn thoắt cô chủ quán bốc phở, nhúng nước, bỏ hành, bỏ thịt vịt vào bát, chan nước dùng, thêm thìa mì chính. 
Phở thật là thơm, mấy miếng thịt vịt nhìn đã làm tôi tứa nước miếng.
- Chị ơi cho tôi một bát. Cứ thế hàng phở đã kín chỗ ngồi. Không ai chú ý đến ai, dường như bát phở vịt đã chiếm hết tâm trí mỗi người, bởi vị ngon thơm và cái thèm được ăn phở vịt bấy lâu dồn nén nên cứ chúi mặt xuống bát.
Người đàn ông quần áo rách cũ ăn vội, đứng dậy không nói gì vội đi ra hàng củi. Bát phở vơi một phần, những miếng thịt vịt còn nguyên trong bát.
- Ông này điên sao ấy, ăn phở sĩ thế. Dân củi mà bỏ thịt vịt còn nguyên. Nói rồi cô bán hàng bê bát đổ thẳng vào thùng nước rác.
- Cô ơi cho một bát! 
- Trả tiền này. Bù đi nhanh lên còn về mua rau. Đã mua gì đâu. Sao trời rét thế… Cái âm thanh mua bán, phàn nàn cứ lẫn lộn, lao xao.
Một cậu tuổi chừng mười sáu, mười bảy tiến lại, ngập ngừng vài phút, khuôn mặt hiện rõ sự khắc khổ, đói và rét. Chiếc áo sờn đôi vai dù đã tích kê chắc đến vài ba lần. Tư thế của dân lấy củi, dáng khom, chân to thô không giày dép, các ngón chân thô ráp, cáu vì bùn khô co rúm quắp lại, mặt cúi gằm, nhút nhát:
- Cô ơi! Bát phở cháu đâu? Cô…? Giọng ngập ngừng như muốn nói to mà không nói nổi, như ngầm van xin, có phần mặc cảm. Cô chủ quán lãng đãng đáp:
- Gì đấy? Ăn phở á?
Vẫn giọng nhỏ ngượng ngập: Bát phở bố cháu đâu?
- Bố nào? Phở nào? Mọi người ai nấy vẫn ăn, vẫn thưởng thức món phở vịt thơm ngon trong trời rét, âm đến chừng không độ.
- Bố cháu dành phở cho cháu ăn… Giọng chậm, run và lí nhí.
Lúc này, tất cả những người đang ăn như lặng đi, ngừng ăn, rồi ngẩng mặt lên như muốn nghe lại câu nói, mà lại như không tin vào câu hỏi vừa nghe được. Không gian loãng ra, mỗi người có một tâm trạng đan xen: ngỡ ngàng, thảng thốt, băn khoăn… như một dòng điện chạy qua người, tê tái.
 Rét không làm người ta run hơn. Không ai đủ tiền mua cho cậu bát phở vịt ngày rét.
Yên lặng…         
SƠN HÀ

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh