Những vần thơ mộc mạc vang vọng mãi với thời gian

Thứ bảy 18/07/2020 06:00

Đọc tác phẩm văn học "Yêu nước và cách mạng ở Cao Bằng thời kỳ 1930 - 1945", tôi mới hiểu những năm 1930 - 1945 ở miền quê cội nguồn cách mạng Cao Bằng lại có nhiều tác phẩm thơ mộc mạc mà nặng chất nhân văn, nặng tình non nước, nặng nghĩa đồng bào như thế.

Dẫu thời gian đã qua hơn nửa thế kỷ, cùng với sự phát triển không ngừng của cách mạng, nền văn học nước ta nói chung, thơ ca nói riêng đã có những bước phát triển vượt bậc, không ngừng đổi mới và ngày càng xuất hiện nhiều dòng thơ khác nhau, làm phong phú thêm nền thơ ca của nước nhà trong xu thế đổi mới và hội nhập, nhưng nay được đọc những bài thơ viết từ những năm 30 của thế kỷ trước, chúng ta vẫn rưng rưng xúc động, tự hào.

Càng đọc càng xoáy sâu vào ruột gan và những vần thơ mộc mạc ấy vẫn như vang vọng cùng thời gian, năm tháng. Không kể những bài chính luận, bài kêu gọi của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và hơn chục bài thơ của các tác giả khuyết danh, tác phẩm có 124 bài thơ của 31 tác giả là các bậc tiền bối cách mạng, các chiến sĩ cộng sản kiên trung, bất khuất.

Cùng với những bài viết bằng tiếng phổ thông còn có nhiều bài viết bằng tiếng Tày - Nùng, Mông, Dao. Bài nào cũng như bài nào, ngôn ngữ đều mộc mạc, dễ hiểu, dễ nhớ và dễ thuộc. Vì mục tiêu của các nhà thơ - nhà cách mạng lúc bấy giờ là làm thơ để kêu gọi mọi người cùng nhau đoàn kết, đồng sức đồng lòng vượt qua mọi gian khổ, hi sinh để gia nhập Hội Việt Minh, theo Việt Minh để đánh Pháp đuổi Nhật và bọn tay sai bán nước, giành chính quyền về tay nhân dân.Ví dụ nh ư ở 4 câu thơ:

"Việt Nam độc lập thổi kèn loa/Kêu gọi dân ta trẻ lẫn già/Đoàn kết vững bền như khối sắt/Để cùng nhau cứu nước Nam ta".

Trong 52 bài thơ của mình viết trong thời kỳ này, ngoài những bài ngợi ca phong cảnh núi non hùng vĩ của Pác Bó, của Cao Bằng, lên án tội ác của thực dân Pháp, phát xít Nhật và bọn tay sai bán nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc dành cho những đối tượng, từng giới, từng lứa tuổi một bài nhằm kích thích lòng yêu nước, căm thù giặc của họ như các bài "Kêu gọi thiếu nhi", "Dân cày", "Phụ nữ", "Công nhân", "Bài ca binh lính", "Bài ca du kích"...

Mỗi bài mỗi vẻ nhưng đọc lên đều thấy được số phận tủi hờn, khổ đau của mình do bọn Tây, bọn Nhật gây ra. Muốn thoát khỏi chỉ có một con đường duy nhất là theo Việt Minh, theo Đảng đứng lên đấu tranh phá bỏ xiềng xích, giành lại quyền tự do cho mình.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại và là một danh nhân văn hóa kiệt xuất của thế giới. Người cho rằng, nếu thơ xưa chỉ nghiêng về phía yêu cái đẹp của thiên nhiên như mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi sông thì ngày nay nhà thơ, người làm văn học phải đứng trong hàng ngũ của nhân dân lao động, phải đấu tranh mạnh mẽ, phải là chiến sĩ tiên phong trên mặt trận chống đế quốc, phong kiến, chống đói nghèo và lạc hậu. Văn học phải là một thứ vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh đó, chứ không thể chỉ dừng ở sự ngâm vịnh, thù tạc khi nhàn tản, càng không thể là việc khoe cái tài chữ nghĩa suông và vụ lợi cá nhân.

Xuất phát từ tư tưởng chủ đạo ấy, nên những năm tháng ở Pác Bó "Sáng ra bờ suối tối vào hang/Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng" thiếu thốn là vậy, cơ hàn là vậy, Bác vẫn có thơ đều đặn cho báo Việt Nam Độc Lập. Mỗi  bài, mỗi câu như một lời hiệu triệu đối với mọi tầng lớp, mọi người, mọi giới.

Nhờ đó mà phong trào Việt Minh ở Cao Bằng ngày càng phát triển, đâu đâu cũng trở thành châu hoàn toàn, tổng hoàn toàn, một lòng một dạ đi theo Việt Minh và đã góp phần xứng đáng công sức, mồ hôi và xương máu của mình làm cho Cách mạng Tháng Tám thành công và sau này kháng chiến chống Pháp thắng lợi.

Thấm nhuần tư tưởng chủ đạo của Bác, các cộng sự thân tín của Người như Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Đình Giong, Lê Quảng Ba..., cũng sáng tác nhiều bài thơ, bài vè để chế giễu, vạch trần tội ác dã man của kẻ thù, ca ngợi đức hi sinh cao cả của các chiến sĩ cách mạng, ca ngợi tấm lòng yêu nước của đồng bào, đồng chí ở Cao Bằng.

Ví dụ như bài: "Chúc mừng Việt Minh huyện Đ.R" của đồng chí Phạm Văn Đồng in trên báo Việt Nam Độc Lập số ra ngày 11/11/1942 nhằm ca ngợi về tấm lòng yêu nước, theo Đảng, theo Việt Minh đến cùng của quân dân huyện Hòa An lúc bấy giờ: "... Thì lá cờ đỏ sao vàng/Của toàn dân nước Việt Nam ra đời/Cờ phấp phới mọi người yêu nước/Nắm chặt tay đoàn kết đồng tình/Cùng nhau vào Hội Việt Minh/Đánh tan chế độ bất bình, dã man/Theo tia sáng sao vàng chói lọi/Châu này không thẹn với giang sơn/Thật là một buổi vẻ vang/Là buổi thành lập Việt Minh Đá Rừng/Toàn dân reo tiếng mừng tay vỗ/Tám chục năm mới có hôm nay/Nỗi mừng không thể giãi bày/Hướng về Đại hội giơ tay đón chào...".

Hoặc bài: "Thùng dè mùa Việt Minh" được viết bằng tiếng Mông của Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ với 6 câu ngắn gọn như: "Thùng dè mùa Việt Minh/Thùng dè cư tì pê/Trế mua trế mua xia/Trế mua cư tì pê/Tố nhè tố phá kí/Trế mua cư tì pê. Được nhà thơ Triều Ân dịch là: "Đồng lòng vào Việt Minh/Một lòng bà con ơi/Đứng lên đứng lên đi/Đứng lên bà con ơi/Đánh Nhật và đánh Pháp/Đứng lên bà con ơi!".

Đọc bài thơ ta dễ liên tưởng nhịp điệu của thơ tới nhịp thở của người Mông mỗi khi lên núi, xuống đèo thì thủ pháp thơ ở đây quá tài tình. Đọc và nghe qua như vậy có lẽ không người mông yêu nước nào lại không đi theo Việt Minh. Có lẽ vì thế mà thơ ca thời kỳ này thật sự có sức lay động lòng người.

Phải chăng những bài thơ ấy đã góp phần làm nên khu Thiện Thuật của người Mông của vùng núi cao Lam Sơn - một khu Việt Minh hoàn toàn, một cơ sở vững chắc chở che, đùm bọc cho các vị lãnh đạo cách mạng lúc bấy giờ mà tiêu biểu là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp...

Đối tượng tuyên truyền đi theo Việt Minh ở Cao Bằng lúc đó phần đông là đồng bào Tày - Nùng nên thơ viết bằng tiếng Tày - Nùng cũng được các tác giả quan tâm đặc biệt như các bài: "Lần tuyện Liên Xô" của Hoàng Đình Giong; "Tết rườn tù" của Dương Công Hoạt; "Tởi mẻ nhình" của Hoàng Thị Ánh; "Cần chang tởi" của Lê Quảng Ba...

Lên án sự vơ vét bạo tàn của địch có bài: "Tan nà dặp" của đồng chí Hoàng Đức Thạc (đồng chí Lã, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng):

"Tứ dạu thâng đăm pích bện phầy/Pôm pôm ngài dá oóc tan ngay/Tềnh thua chíu chíu tha vằn chói/Tẩư slửa rì rì mẻc thứa lây/Kha rả, đang gài, ngảm phyâng đây/Kỷ lai khôm khỏ tan nà dặp/Tan đảy au mà liệng Nhật, Tây...".

Dịch là: "Nắng lửa như thiêu nóng suốt ngày/Cơm xong mùa gặt phải đi ngay/Nắng hè chói chang trên đầu chiếu/Mồ hôi rỉ rấn dưới áo dày/Lưng mỏi, chân bùn, mình dặm quá/Rát vai, da sạm, xương nhừ thay/Bao nhiêu cay đắng mùa chiêm gặt/Thóc gặt về nuôi béo Nhật, Tây".

Thông qua việc miêu tả nỗi nhọc nhằn, vất vả nắng mưa của người dân trong những ngày gặt lúa chiêm, tác giả muốn tố cáo sự bóc lột thậm tệ của Nhật, Tây. Từ đó kêu gọi mọi người hãy cùng nhau quyên góp thóc, gạo, tiền bạc cho Việt Minh, đồng thời chuẩn bị súng đạn cho tổng khởi nghĩa, giành chính quyền.

Qua tập thơ, chúng ta thấy được tấm lòng nhân ái sâu sắc, yêu thương rất mực đối với đồng bào các dân tộc thiểu số của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các bậc tiền bối cách mạng lúc bấy giờ. Chỉ có tình thương yêu vô hạn, lúc nào cũng đau đáu với cảnh lầm than, cơ cực của đồng bào mới có những vần thơ mộc mạc, nóng hổi, vào lòng người như thế để kêu gọi, đoàn kết và tập hợp họ dưới lá cờ Việt Minh, cùng nhau đạp bằng mọi chông gai, nguy hiểm, vùng lên lật nhào ách đô hộ của Nhật, Tây, mang lại tự do và cơm no áo ấm cho mọi người.

Cũng qua đây ta thấy được tính chiến đấu, tính phục vụ cuộc sống của tập thơ quá rõ ràng. Như vậy tính dân tộc và đại chúng là hình thức, là phương tiện; tính chiến đấu và tính phục vụ cuộc sống, phục vụ nhân dân là nội dung, là mục đích của thơ ca cách mạng lúc bấy giờ. Mỗi vần thơ, mỗi bài thơ là nhịp thở, là tấm lòng của người viết.

Càng đọc chúng ta càng kính trọng, cảm phục và mãi mãi biết ơn vị Cha già của dân tộc và các bậc tiền bối cách mạng lúc bấy giờ. Mặc dù sống và làm việc trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, nguy hiểm, lúc nào cũng bị địch lùng sục, bắt bớ, tù đày, giữa cái sống và cái chết chỉ trong gang tấc mà vẫn làm thơ để phục vụ cách mạng.

Suy ngẫm về cái hay, cái đẹp của tập thơ, tự nhiên tôi nhớ tới Lý Tử Tấn, khi sưu tầm và viết lời tựa cho "Việt âm thi tập" đã có những nhận định thông đạt rằng: "Phép làm thơ thật khó lắm thay! Muốn thơ cổ kính, thanh đạm thì lại gần với thơ; muốn đẹp đẽ thì lại gần với hoa hòe, hoa sói; hào mại thì gần tới chỗ buông thả; thật thà thì dễ tới chỗ quê mùa. Cho nên lời, ý giản dị, đầy đủ, mạch lạc, thông suốt, chất phác mà vẫn nhã, mới lạ mà không trúc trắc, đôn hậu nhưng không thô kệch, cao sâu mà vẫn có giọng ôn hòa, đó là những điều rất khó có thể đạt được".

"Rất khó có thể đạt được" nhưng đạt được sẽ hay, đó chính là đúc kết và cũng là mong đợi của đông đảo bạn đọc, của những người yêu thơ! Chắc hẳn người cầm bút nói chung, người làm thơ nói riêng sẽ mãi mãi phấn đấu, noi theo, vì "thần diệu của thơ là cốt ở tấm lòng!".

Phải chăng chính cái "thần diệu" ấy đã trở thành nguồn sức mạnh vô biên để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta một lòng, một dạ nhất tề đứng lên theo vị thống lĩnh tối cao Hồ Chí Minh làm nên cuộc tổng khởi nghĩa Tháng Tám thành công và cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi hoàn toàn.

Chu Sĩ Liên

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh