Nghệ thuật đặc sắc của thơ Đường luật

Chủ nhật 01/12/2019 06:00

Thơ Đường luật (TĐL) Việt Nam có nguồn gốc từ thơ Đường Trung Quốc, du nhập vào cách đây hơn một nghìn năm, đã được các thi sĩ nước ta vận dụng sáng tạo, phá cách, nới lỏng rào chắn, nhào nặn nhuần nhuyễn, Việt hóa trở thành thể thơ truyền thống Việt Nam. TĐL Việt Nam có đủ nội lực mang hồn cốt dân tộc, văn hóa người Việt.

Lãnh đạo Hội Thơ Đường luật tỉnh tặng giấy khen cho 2 tập thể hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác Hội năm 2018.

TĐL đã được văn học sử công nhận từ lâu đời, được đưa vào sách giáo khoa phổ thông. Giá trị văn chương và bản sắc văn hóa dân tộc của TĐL là tài sản trí tuệ quý báu trong kho tàng văn học Việt Nam. TĐL có sức sống bền bỉ, mãnh liệt, tồn tại, tỏa sáng hơn mười thế kỷ qua bởi bản sắc tốt đẹp, trong đó có tính nghệ thuật độc đáo của thể thơ.
TĐL mang nghệ thuật về hạn câu, hạn chữ (đa nghĩa, kiệm lời), sự súc tích, cô đọng, lời ít ý nhiều mang tính giá trị vĩnh hằng của lịch sử thơ ca. TĐL gói gọn dài nhất của mỗi bài thơ gồm 3 dạng bài: “Thất ngôn bát cú” là 56 từ (56 viên ngọc); “Thất ngôn tứ tuyệt” là 28 từ; “Ngũ ngôn tứ tuyệt” là 20 từ, nhưng đều phải đáp ứng yêu cầu cả hình thức và nội dung của một bài TĐL. Do vậy, đòi hỏi ngôn từ trong TĐL có sức dồn nén cao, độ hàm súc lớn, đa nghĩa, kiệm lời là đặc trưng nghệ thuật tối thượng của TĐL.  
Bài “Nam quốc sơn hà” của danh tướng Lý Thường Kiệt như một bản Tuyên ngôn độc lập nhưng chỉ với 4 câu TĐL ngắn gọn: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư/Tiệt nhiên định phận tại thiên thư/Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”. Bài thơ nêu được ý chí hào hùng, đanh thép, lòng yêu nước nồng nàn, tự hào dân tộc, lạc quan với niềm tin tất thắng. Bài thơ “Nguyên Tiêu” của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ có 4 câu TĐL: “Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên/Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên/Yên ba thâm xứ đàm quân sự/Dạ bán quy lại nguyệt mãn thuyền”. Bài thơ không chỉ vịnh cảnh trăng trên sông trong đêm rằm tháng Giêng mà còn là sự thể hiện nổi bật sức sống mãnh liệt của dân tộc ta, là niềm tin của nhà thơ - chiến  sĩ cách mạng vào thành công của sự nghiệp kháng chiến cứu nước.
Nghệ thuật về sự trầm bổng, nhịp nhàng, hài hòa cân xứng, tương quan - tương phản thể hiện nhạc tính nổi bật trong TĐL. Đặc điểm chung của các thể thơ là trong thơ có nhạc, trong nhạc có thơ, song, âm nhạc trong TĐL giữ vị trí vô cùng quan trọng. Nếu tứ thơ là linh hồn, ngôn ngữ là cốt cách thì âm nhạc là hơi thở của TĐL, với nhịp trầm bổng được thể hiện qua các yếu tố vần, đối, thanh điệu bằng, trắc. Thông qua vần, bài thất ngôn bát cú có 5 vần, bài thất ngôn tứ tuyệt có 3 vần..., đó là sự lặp đi lặp lại những âm thanh tương tự nhau ở cuối câu giống như những móc nối luyến vế trên với vế dưới, nối những từ, hình ảnh, ý thơ với nhau thành một khối liền mạch, tăng sự liên kết và sức gợi cảm của áng thơ. Khi nghe một âm, một nhóm âm nào đó được láy đi láy lại, lúc dứt lúc nối như lời đệm trong dân ca, điệp khúc trong bài hát, đó là cái đẹp trùng điệp, trầm bổng của TĐL được tái hiện trong âm nhạc. Ví dụ bài TĐL của Bác Hồ: “Non xa xa nước xa xa/Nào phải thênh thang mới gọi là/Đây suối Lê-nin kia núi Mác/Hai tay gây dựng một sơn hà”.
Thông qua đối ngẫu, những câu TĐL trở thành đoạn nhạc cân xứng khi nó phối hợp có độ dài, ngắn bằng nhau. Bài TĐL thất ngôn bát cú có 2 cặp đối, lời thơ được sắp xếp sao cho số từ, loại từ, vị trí và nhiệm vụ ngữ pháp của các từ trong 2 dòng như nhau, quá khứ - hiện tại, cụ thể - trừu tượng đối nhau làm bật ý, rõ luật, cảm xúc lấp lánh nhiều khía cạnh, thể hiện tính hài hòa cân xứng trong từng cặp đối phù hợp với tiết tấu của bản nhạc. Ví dụ, trong thơ Tố Hữu: “Dẫu một cây chông trừ giặc Mỹ/Hơn ngàn trang giấy luận văn chương”. Thông qua thanh điệu bằng, trắc tạo nên nhạc điệu bổng trầm của thơ, với thi pháp chặt chẽ về niêm luật bằng, trắc đã phát huy tối đa âm sắc của thanh điệu tiếng Việt, làm chuyển biến sự lên - xuống, cao - thấp nhịp nhàng của ngôn ngữ thơ, cùng với nhịp cắt trở đi trở lại có tính quy luật đã tạo nên cái đẹp về nhạc điệu trầm bổng, du dương, hài hòa của TĐL.
Có thể nói, thông qua thi pháp về các yếu tố cơ bản của TĐL đã khiến thể thơ này rất giàu nhạc tính, cần giữ gìn và phát huy bản sắc nghệ thuật đó. Như các câu thơ sau: “Bước tới đèo Ngang bóng xế tà/Cỏ cây chen đá, lá chen hoa” (tác giả Bà Huyện Thanh Quan), nhịp 4/3, đúng vần, đúng luật; “Không phải biển, bờ tim dậy sóng/Chẳng phải sông, ánh mắt khơi dòng” (tác giả Hoài Yên), có nhịp 3/4, đúng luật, đối chỉnh.
Nghệ thuật đặc sắc của TĐL về 3 yếu tố cơ bản nêu trên được áp dụng trong các thể thơ truyền thống Việt Nam, kể cả dân ca khắp vùng miền đất nước, như: thơ lục bát, song thất lục bát, hò, vè, ca dao, tục ngữ, quan họ, hát Xoan, bài chòi, hát dặm, lượn sli Tày - Nùng..., mỗi thể loại đều có mô hình cấu trúc, sắc thái riêng, nhưng cùng đồng hành bên nhau với mối quan hệ về 3 thành tố cơ bản của thể thơ truyền thống (thể thơ cũ) về vần, luật, đối, nhằm hướng tới một mục đích chung là dễ đọc, dễ nghe, dễ nhớ mà nghệ thuật TĐL đáp ứng được các yếu tố đó. Ví dụ: “tay làm/hàm nhai” (tục ngữ) được cả vần và đối; “Quanh năm lặng lẽ đi về/Mùa đông giá lạnh mùa hè nóng ran” (tác giả Thanh Chì), thơ lục bát, đúng vần, đúng luật bằng, trắc.
 Ngoài ra, với các yếu tố cơ bản của bài TĐL (luật niêm, vần, đối, bố cục, giới hạn câu chữ) theo đúng thi pháp thì phải có điều kiện đơn âm tiết và có thanh điệu bằng, trắc, thể hiện được thanh độ cao - thấp, nặng - nhẹ, dài - ngắn khác nhau, phù hợp với mô hình, thể loại TĐL. Ngôn ngữ Việt đáp ứng được điều kiện lý tưởng này, khiến nghệ thuật đặc trưng của TĐL vẫn trường tồn ở Việt Nam. Ngôn ngữ Tày - Nùng cũng thỏa mãn được điều kiện khắt khe đó, người Cao Bằng từ lâu đã sáng tác TĐL bằng 3 thứ tiếng Hán Nôm, Việt, Tày - Nùng, dịch từ thơ tiếng Tày - Nùng sang tiếng Việt và ngược lại. Đặc biệt, người Cao Bằng còn trình diễn, ngâm TĐL bằng các làn điệu dân ca Tày - Nùng đã đưa TĐL vào đời sống văn hóa tinh thần sinh động của đồng bào miền núi. Ví dụ, bài “Bjoóc Tào” của tác giả Hoàng An: “Mấn mấn phân bên Tết ái thâng/Lặp lè nổc én voỏng tềnh sân/Phè phè lầm chặu phèn bâư ón/Chủm chỉm bjoóc tào roọng chúa xuân” Dịch: Lất phất mưa bay Tết đến gần/Là là cánh én liệng ngoài sân/Mơn man gió sớm vương trên lá/Chúm chím hoa đào gọi chúa xuân”.
TĐL đã đi vào công chúng hàng nghìn năm nay, với trình độ dân trí ngày càng cao sẽ chọn lựa, tiếp thu cái hay, cái đẹp, cái cao cả trong TĐL, bảo tồn và phát huy những tinh hoa bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam nghìn năm văn hiến.

Nguyễn Duy Trọng, Chủ tịch Hội Thơ Đường luật tỉnh

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh