Mẹ gạo

Chủ nhật 02/12/2018 07:59

Dân tộc Tày chúng tôi coi cây lúa như một ân nhân thật đặc biệt. Thậm chí chúng tôi gọi cây lúa bằng mẹ. Me khấu (mẹ gạo). Trên đời này không có gì thiêng liêng hơn tiếng mẹ. Một tiếng mẹ khi cất lên, thấy trong lòng ta rưng rưng biết bao nỗi niềm, biết bao tình trân quý, thân thiết và gần gũi. Thế thì người Tày chúng tôi gọi mẹ gạo là chí lý lắm. Mẹ gạo tuy không sinh thành, nhưng có công nuôi dưỡng mình suốt đời.

Ngày mùa. Ảnh: T.V

Cây lúa bé bỏng mỏng mảnh yếu ớt, vậy mà cực kỳ quan trọng. Người mẹ quan trọng thế nào, cây lúa quan trọng dường ấy! Có lúc vui miệng, các bà các chị còn gọi hạt lúa là hột thịt (muôi khẩu khón nựa). Thân thiết đến mức coi cây lúa cũng là cây cơm cây thịt. Từ bé đến già, từ con dân đến vua quan, cũng chỉ ăn cơm gạo mà sống mà thành con người có sức mạnh, có trí tuệ, có tình cảm… Nhờ có cơm gạo mà loài người mãi mãi sinh tồn và sinh tồn bất tận.
Người Tày chúng tôi xem cây lúa nước là hình ảnh chính nhân quân tử. Người quân tử hết lòng hết dạ vì nước vì dân. Người quân tử cả đời phục vụ mà không tính công, không kể thưởng. Đời cây lúa uyển chuyển thanh cao như người quân tử. Nó biết tránh cho mình những điều không may xảy đến. Ví như gió nhường nào, dù cây lúa đang thì con gái hay đang trĩu bông cũng không đổ gục. Hình ảnh cây lúa là minh triết bao đời nay của người Tày. Cha ông chúng tôi dạy: Hạt thóc nhọn hai đầu. Nghĩa là con người ta ăn hạt thóc ắt phải thông minh hơn thóc. Vì thế người Tày chúng tôi biết lấy yếu mà thắng mạnh, lấy lòng nhân mà thắng bạo tàn. Lắm khi trà dư tửu hậu, có thi sĩ người Tày hiện đại, nhìn bông lúa mà thành ra con cá. Hạt lúa lợp lên nhau như vẩy cá. Đêm dưới trăng hạt lúa óng ánh vàng. Hạt càng mẩy thì bông càng cúi mình nhún nhường. Người Tày từ đời này truyền cho đời sau, sống mà học theo cây lúa. Chân thành thực thà như cây lúa. Thiện lương nhân ái như cây lúa. Nhẫn nhịn nhường nhau như cây lúa. Nhân đức cao cả như cây lúa. Sống nghĩa là cho đi. Cho đi nghĩa là mãi còn.
Người Tày chúng tôi có nghề trồng lúa nước rất lâu đời. Kể từ cái ngày đất trời đang còn hỗn độn, cha ông chúng tôi đã biết cách thuần hóa cây khẩu phi (lúa ma) mọc hoang dại bên bờ suối, thành cây lương thực chủ yếu như bây giờ. Thuần hóa con trâu con bò hoang giúp người nông dân cày bừa... Cha ông chúng tôi để lại truyền thuyết Báo Luông Slao Cải để giải thích về những điều đó. Hai vợ chồng to cao khổng lồ, thân lừng lững như cây gạo, tay dài ngoằng như cành gạo. Tóc râu tùm tòa rậm rạp như rừng. Họ là những người đầu tiên gây dựng nên mảnh đất và con người Cao Bằng, cho đến tận ngày nay. Con cháu đời đời vẫn còn nhớ câu Báo Luông Slao Cải dặn lại: Gặm hết nà/gà hết rẩy (đại ý là: Chỗ nào có nước thì làm ruộng, chỗ nào không có nước thì làm rẫy). Cha ông người Tày đã tận dụng từng tấc đất để canh tác cấy trồng lúa nước và các loại hoa màu khác. Người Tày chúng tôi quý đất lắm. Đất giá trị cao hơn vàng bạc. Chẳng thế mà dân gian Tày có câu: “Ngần zèn tang tôm nhả” (Bạc tiền chẳng bằng đất cỏ). Bởi vì vạn vật từ đất mà sinh thành. Trên đời này không gì bao dung bằng đất. Thuận theo đất thì muôn đời trường tồn.  
Lại nói về danh định người Tày. Ít ai ngờ lại chính từ chữ thây (cày) mà ra. Khởi thủy lấy công việc gần thây nà (người cày ruộng) để phân biệt với những gần tức bết (người đi câu), tức thấu (người đi săn), gần au fùn (người hái củi)… Lâu dần, người ta lược bớt đi một chữ nà (ruộng) còn hai chữ gần thây (người cày). Mặc nhiên từ bao giờ người ta công nhận đây danh tộc người Tày. Và kể từ đấy đến nay, dân tộc Tày trở thành danh xưng chính thức.
Có một thời cha ông chúng tôi tự nhận mình là người Thổ. Thổ này là thổ địa, như người ta vẫn thường gọi: Niêm thổ là đất thó hay đất sét; sa thổ là đất cát; nê thổ là đất bùn… chứ không phải người Tày dân tộc Thổ, như một số người vẫn hay lầm tưởng. Trên thực tế nước ta có một dân tộc Thổ, họ thuộc về ngữ hệ Việt Mường. Còn chúng tôi thuộc ngữ hệ Tày Thái. Dân tộc Thổ họ sống rải rác ở miền Tây hai tỉnh Nghệ An - Thanh Hóa. Còn người Tày chúng tôi sống chủ yếu tại những cánh đồng, thung lũng, chuyên trồng lúa nước, tại các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn Tuyên Quang, Thái Nguyên… và một số tỉnh miền núi phía Bắc.
Đặc biệt, người Tày chúng tôi bất kể trai hay gái cũng thành thạo cày bừa cấy hái. Việc đồng áng, ai làm gì cũng được, “chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa”. Khi lên tám tuổi, đã theo mẹ đi bừa. Mười hai tuổi tôi đã cùng cha đi cày. Đến khi mười lăm mười sáu tôi đã cùng mẹ, chị nhổ mạ, gánh phân, sửa mương đắp phai dẫn nước vào ruộng. Mười tám mười chín tôi đã là một anh nông dân lực điền thực thụ. Tiện đây tôi cũng xin nói thêm, thuật ngữ mương phai là của người Tày. Trong từ điển Tiếng Việt đã nói rất rõ: Mương phai là hệ tưới tiêu của người Tày ở miền núi.
Điều đặc biệt nữa, dân tộc Tày chúng tôi còn có nông lịch. Đây là cách chia thời gian dành riêng cho nhà nông. Loại lịch này chỉ có ngày âm, không có ngày dương. Nông lịch được các nhà nho viết tay bằng chữ nôm Tày, chữ to như miếng bánh đúc trên một tờ chỉa sla (giấy dó). Đây là lịch tươi và họ cũng chỉ bán trong ngày ba mươi Tết thôi. Nông lịch quy định thời điểm nào nên làm việc gì, ví dụ: “Bươn slam lồng chả, bươn hả đăm nà”, nghĩa là tháng ba gieo mạ, tháng năm cấy lúa. Thậm chí nông lịch còn tính từng ngày cụ thể. Mùng bảy ngâu đến, mùng chín thì ngâu về. Hai ngày ngâu không ăn. Ba đêm ngâu không ngủ. Ngâu để mắt còn chờ người thương. Chờ người thương đến mềm cả cổ, nhưng cuộc đời vẫn chưa cho gặp...
Nông lịch người Tày tuy ngắn gọn nhưng đầy đủ thông tin, khi nào nắng, lúc nào mưa xuống. Nông lịch còn nhắc nhở cháu con, đến ngày mùng sáu tháng Sáu, nhớ làm cỗ làm bàn cúng hồn cây lúa. Cỗ cúng cho hồn lúa gồm một bát bún thang, một chú vịt luộc và một bát ô tô xôi vò có ngọn. Lúc này cây lúa non như các bé mẫu giáo lớn, hồn vía vẫn mải chơi. Chơi chỗ này một lúc, chơi chỗ kia một lát, chơi tới chiều thì hồn quên đường về. Hồn không về là lúa mọc thẳng tưng, hạt lép. Lúa lép thuộc về loài hữu danh vô thực.
Người Tày quý cây lúa bằng mười, thì quý hạt cơm bằng một trăm linh một. Cha tôi thường dạy các con rằng: một hạt cơm cõng một lưng mồ hôi. Nên khi ăn ta cần phải nhai cho thật kĩ. Các con khi ăn cơm không được làm rơi, làm rơi hạt cơm là phạm lỗi với Mẹ gạo.                   

Y Phương

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh