Kỷ niệm chiến trường miền Tây

Chủ nhật 05/08/2018 07:00

- Ông còn nhớ Lê Xuân Cơ không? Đã mấy chục năm trôi qua rồi mà tôi vẫn cứ nhớ như in. Lúc hấp hối còn cười hỏi tôi: “Thông ơi, cho tao một điếu thuốc lào”, tôi vê thuốc đưa mà không cầm được nước mắt. Bọn địch đã cướp đi của chúng mình quá nhiều đồng đội, giá lúc này Cơ còn sống thì vui biết mấy - Thông bồi hồi nhớ về người bạn chiến đấu nơi chiến trường Lào cách đây gần bốn chục năm. - Nhớ chứ! Cơ cùng mình học sỹ quan ở quân khu Trị Thiên. Sau giải phóng cùng tham gia dò, gỡ bom mìn tại Hải Lăng (Quảng Trị). Năm 1976, cùng về Trung đoàn 335 sang giúp nước bạn Lào, Cơ là Đại đội trưởng - Hòa nhanh nhảu trả lời.

Cựu chiến binh Chu Đức Hòa (trái) và Hoàng Văn Nhưng (phải) khi còn ở chiến trường miền Tây.

Đó là câu chuyện mở đầu cho cuộc gặp hiếm có của 3 cựu chiến binh tại thành phố Cao Bằng. Những người lính từng chia ngọt sẻ bùi trong thời gian tham gia Quân tình nguyện giúp nước bạn Lào tiễu phỉ, xây dựng chính quyền. Người trẻ nhất là Chu Đức Hòa đã qua tuổi sáu mươi. Người có tuổi cao nhất là Trương Văn Thông cũng đã ở tuổi sáu tám. Trong ba người lính già ấy duy chỉ có Hoàng Văn Nhưng là hoàn cảnh khó khăn hơn cả nhưng phút gặp nhau giữa những người bạn cũ thì anh lại là người giàu ký ức của một thời. Anh Nhưng lục cho bạn xem những vật kỷ niệm của thời chiến tranh đầy gian khổ, trong đó có cả quyển vở học tiếng Lào mà anh bảo là các cô giáo Lào dạy cho. Giờ anh vẫn có thể dùng được khá nhiều ngôn từ giao tiếp của Lào.
Nhưng quê ở xã Ngọc Xuân (nay là phường Ngọc Xuân, Thành phố), cuối năm 1969, được nhập ngũ. Sau những năm tháng chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị, đến đầu năm 1976, Nhưng cùng Hòa được điều về Trung đoàn 335, đóng ở Nghệ An để chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới - giúp nước bạn Lào tiễu phỉ, xây dựng chính quyền. Sau thời gian tập huấn về kiến thức chuyên môn tối thiểu cho lính tình nguyện, cả 2 được ưu ái nghỉ vài ngày về thăm quê nhưng vì phương tiện giao thông không thuận lợi nên mỗi người chỉ về gặp gia đình được một ngày rồi trở về đơn vị để kịp hành quân sang Lào. Phải mất cả tuần hành quân ròng rã bằng xe Jin ba cầu qua Xiêng Khoảng rồi về đóng quân tại Viêng Chăn. Trương Văn Thông tỏ ra là người từng trải, anh giữ gìn nguyên vẹn những kỷ niệm trong cuộc chiến đấu đầy gian khổ với bọn tàn quân phỉ. Khi nước bạn Lào được giải phóng thì việc xây dựng chính quyền gặp rất nhiều khó khăn vì  bọn phỉ quấy phá điên cuồng, giống như bọn Fulro ở Tây Nguyên vậy. Bên ta có lực lượng quân đội và an ninh dày dạn kinh nghiệm mà cũng phải mất hàng chục năm mới giải quyết căn bản bọn Fulro. Bên nước bạn Lào thì lực lượng quân đội mỏng trong khi tàn quân phỉ quá đông, có vũ khí khá hiện đại, thông thuộc địa bàn rừng núi hiểm trở, nên việc đối phó với những hoạt động phá hoại của bọn phỉ gặp rất nhiều khó khăn. Cả Thông, Nhưng, Hòa đều nằm trong biên chế cùng trung đoàn. Cuộc chiến đấu với bọn phỉ buộc người lính tình nguyện phải tự trang bị cho mình kỹ năng sống và chiến đấu trong môi trường khắc nghiệt mà ở đó lạ cả địa danh, tiếng nói, phong tục tập quán, mọi sinh hoạt đều phải ở trong rừng.
Trong cuộc chiến đấu ở chiến trường Lào, Hòa là Đại đội trưởng Đại đội 5, Nhưng là Trung đội trưởng, còn Thông là Đại đội trưởng Đại đội 8. Trong cả sinh hoạt và chiến đấu, họ gắn bó với nhau như máu thịt. Mặt trận bên nước bạn Lào khác hẳn trận tuyến bên ta. Phải đối mặt với kẻ địch là bọn phỉ dù chỉ là tàn quân nhưng rất nguy hiểm, vì thế muốn làm chủ tình thế buộc ta phải chủ động tổ chức tấn công vào  sào huyệt của chúng. Trong một lần Hòa chỉ huy đơn vị tấn công vào sào huyệt phỉ trong hang Thẳm Khai đã vấp phải sự chống trả quyết liệt của địch, dù rất nhiều cố gắng vẫn không chiếm được căn cứ, trong lúc trận địa đang ở thế giằng co thì được Nhưng đưa lực lượng mạnh tấn công vào sườn địch làm bọn chúng rơi vào tình thế bị động vội vàng rút quân tháo chạy, đơn vị của Hòa từ thế bị động chuyển sang chủ động chiếm căn cứ. Sau trận ấy, tình bạn trong chiến đấu giữa Hòa và Nhưng càng thêm gắn bó...
Những kỷ niệm một thời máu lửa của người lính tình nguyện bên chiến trường miền Tây như không bao giờ có hồi kết. Mỗi lần gặp nhau hoặc trao đổi qua điện thoại, họ đều cảm nhận như đang sống lại thời trẻ oanh liệt. Chuyện về những hy sinh của người lính đã đánh thức trong tôi niềm háo hức khám phá về nơi chiến trường mà ở đấy vẫn chứa đựng nhiều điều bí ẩn, nơi có những chiến sỹ của ta hy sinh mà tới giờ vẫn chưa tìm thấy hài cốt. Thế là tôi đi đến quyết định tìm về nơi chiến trường xưa. Khác với các bạn cựu binh xưa phải hành trình với thời gian dài thì chỉ một ngày từ Cao Bằng đi bằng ô tô và một giờ bay là tôi đã có mặt tại thủ đô Viêng Chăn.
Chỉ huy Cục Quan hệ Quốc tế, Bộ An ninh Lào đón tiếp thân thiện khi biết mục đích chuyến đi của tôi là đến Long Chẹng - nơi từng là thủ phủ của phỉ Vàng Pao. Trực tiếp đưa tôi đi là Trưởng phòng quan hệ Lào - Việt, Thượng tá Phay Văn Sít Thị Chăn và cô phiên dịch tên Seng Pinh Sin Vông Sa. Cả hai đều được đào tạo tại Việt Nam nên rất thông thạo tiếng Việt, câu chuyện giữa chúng tôi thân thiện, cởi mở ngay từ phút gặp gỡ ban đầu. Chúng tôi hành trình bằng xe của Bộ An ninh Lào. Cô Seng Pinh mở đầu câu chuyện - Tên cháu dịch ra tiếng Việt là Nguyệt, sinh năm 1990, được cử sang Việt Nam học ở Học viện Ngoại giao. Xong chương trình đại học thì học luôn cao học, về nước được tuyển vào làm tại Bộ An ninh với cấp hàm Thượng úy. Phay Văn thì giới thiệu với tôi về những nét văn hóa độc đáo và phong tục tập quán các dân tộc Lào. Anh cho tôi biết bản Long Chẹng trước kia thuộc huyện Pan Xây, tỉnh Xiêng Khoảng. Sau giải phóng năm 1975, thuộc huyện Xây Xổm Bun. Đến đầu năm 2014, bản Long Chẹng trở thành trung tâm của huyện lỵ Long Chẹng, tỉnh Xây Xổm Bun. Câu chuyện như làm cho chặng đường dài qua cánh đồng Chum, len lỏi bên chân núi Phu Bia như ngắn lại.
Hành trình vào Long Chẹng thật gian nan. Bên đường đèo dốc hiểm trở, chi chít những lô cốt phòng thủ của bọn phỉ được xây bằng đá. Từ trên đỉnh dốc nhìn vào thung lũng lòng chảo Long Chẹng, tôi cảm tưởng như đó là một Điện Biên thu nhỏ. Gọi là thị trấn nhưng chỉ toàn những căn nhà sàn lợp tôn lúp xúp. Phay Văn bảo: Bây giờ mới đông dân hơn chứ cách đây ba năm thì nơi đây hoang sơ lắm. Điểm đầu tiên chúng tôi đến là căn biệt thự của Vàng Pao, đó là căn nhà hai tầng xây hình chữ L đã phủ kín rêu phong nhưng vẫn giữ được sự vẹn nguyên. Trên sân thượng vẫn còn chiếc máy bay mi ni, phía cuối mái nhà là một ụ súng cối 82 ly. Dưới nhà có cả hầm ngầm xuyên vào tận lòng núi, tường nhà và hầm dày cả mét, đủ sức chống đạn B40, B41. Từ trên nóc nhà nhìn ra thung lũng Long Chẹng là lòng chảo khá bằng phẳng rộng chừng 4 km2, có cả sân bay thời Vàng Pao cố thủ. Xung quanh lòng chảo là các ngọn núi Phú Mộc, Phú Tả Can với độ cao hơn 2.000 m so với mực nước biển. Từ thung lũng nhìn lên đỉnh Phu Leo, thấy một căn nhà được xây khá khang trang ẩn mình trong những tán lá, Phay Văn cho biết đó là nơi trước kia Vàng Pao đón tiếp các cố vấn quân sự nước ngoài.
Người đầu tiên mà lực lượng an ninh địa phương bố trí tiếp xúc với tôi là Bủa Văn, từng là Thiếu tá phỉ, anh ta bảo Vàng Pao rất tàn ác, những ai làm trái ý hắn đều bị xử rất dã man. Vàng Pao sinh năm 1928, ở Xiêng Khoảng, năm 1962 mới vào Long Chẹng xây dựng căn cứ dưới sự bảo trợ của quân đội Mỹ. Quân của Vàng Pao có tới 15 tiểu đoàn, hắn tự phong cho mình hàm Thiếu tướng. Về đời tư, hắn có tới 7 vợ, 28 con. Tiếng tăm của Vàng Pao đồn xa khắp vùng đồng bào Mông và mọi người đều tôn hắn là Vua Mèo. Trước sự bao vây, tấn công của quân đội Việt Nam, biết khó giữ nổi Long Chẹng nên ngày 22/6/1975, hắn đã bỏ chạy sang Thái Lan rồi sau đó sang định cư tại Mỹ. Nhân chứng thứ hai là một người từng lái xe riêng cho Vàng Pao có tên là Dua Xông Vàng, anh ta bị Vàng Pao bỏ lại nên đã chứng kiến cảnh tan rã của hàng vạn lính phỉ. Đêm cuối cùng, Long Chẹng bị bộ đội Việt Nam biến thành một chảo lửa. Sau đó nhiều gia đình có người theo phỉ cũng di tản khỏi khu vực này, thay vào đó là một bộ phận đồng bào Khơ Mú đến đây định cư. Hàng vạn lính phỉ bị bỏ lại với lượng vũ khí khổng lồ vẫn cấu kết với nhau ra sức chống phá đã buộc quân tình nguyện Việt Nam phải ra tay giúp bạn Lào củng cố chính quyền cơ sở.
Đêm xuống, Long Chẹng yên tĩnh lạ thường. Tiết trời ở đây mát dịu như Đà Lạt. Theo lời của Phay Văn thì Chính phủ Lào chủ trương xây dựng Long Chẹng trở thành trung tâm du lịch lớn vì nhiều du khách có nhu cầu được thăm nơi từng một thời là thủ phủ của tướng phỉ Vàng Pao. Thật không uổng công lặn lội đến nơi này để hiểu rõ hơn sự hy sinh và những đóng góp to lớn của Chính phủ Việt Nam trong cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc Lào. Trong cuộc kháng chiến đó, Chính phủ Việt Nam không những ủng hộ lực lượng quân tình nguyện mà còn có cả các ngành khác như nông, lâm nghiệp, giáo dục… mà ta gọi là Ban công tác miền Tây. Sự đầu tư về vật chất còn có thể bù đắp lại được nhưng những mất mát về con người thì không dễ giải quyết được trong ngày một ngày hai.
Trong giấc ngủ chập chờn nơi đất khách xa quê hương tới cả ngàn cây số, tôi như nghe thấy từng hơi thở của đất, của rừng thiêng nơi từng in những dấu chân người lính tình nguyện đã hy sinh cả tuổi thanh xuân để vun đắp nên tình hữu nghị Việt - Lào. Liệu giờ này, ở nơi quê hương yêu dấu, nghệ sỹ Chu Đức Hòa có còn thức để làm những bức tranh đá và có biết người bạn của mình đang lần theo dấu chân xưa nơi chiến trường miền Tây để tái hiện lại phần nào cuộc sống của những người lính cách đây đã nửa vòng thế kỷ?!

Phan Nguyệt

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh