Khi mây còn ngủ trên đồng

Chủ nhật 18/11/2018 06:00

Sáng sớm hãy còn làn sương mỏng đục như sữa, một người bạn thân gọi ngay cho tôi đặt vấn đề viết khoảng hai trang về văn hóa Tày. Điều này quá khó bởi Văn hóa là một “sân chơi” nghiêm túc, đòi hỏi phải có kiến thức cực kì rộng lớn và một tâm hồn cực kì nhạy cảm... Thử hỏi hai trang giấy nói được những gì? Hơn nữa tôi chỉ dám mon men đi bên lề mảng Văn hóa. Và là một người hoàn toàn nghiệp dư với lưng vốn hiểu biết về Văn hóa quá ư vụn vặt, hỏi tôi sẽ giúp bạn được gì với hai trang viết?

Phụ nữ Tày trong trang phục truyền thống.
Anh bạn gợi ý hãy nói cụ thể về những cái đã mất trong văn hóa Tày thôi. Vâng! Cái đó đúng là đang mất dần từng ngày và rồi sẽ mất tất, nếu không có ngay biện pháp ngăn chặn. Với văn hóa, một khi đã mất thì khó lòng lấy lại. Cái mất dễ thấy nhất, đó là trang phục dân tộc Tày. Đây là một trong những biểu trưng quan trọng nhất của văn hóa tộc người Tày.
Nhớ lại một thời không xa, cách nay chỉ năm chục năm, những người dân quê tôi vẫn còn trồng bông, dệt vải, nhuộm chàm. Hằng năm cứ đến cuối thu đầu đông là các mẹ các chị mang vải ra đo cháp rồi cắt khâu nhằm nhặp những áo mới, quần mới, mũ mới… biếu ông bà cha mẹ và cho lũ trẻ nhỏ diện trong dịp Tết. Hình ảnh một thời trong các buổi chợ phiên tại quê tôi, ai ai cũng mặc áo chàm. Ai ai cũng nói tiếng Tày tự nhiên như hơi thở. Đâu đâu cũng mùi chàm thơm như khí trời. Tiếng Tày ngọt ngào quyện vào mùi chàm thơm hăng hắc, làm nên hình ảnh quê hương miền núi vừa gần gũi vừa giản dị.
Cái mất lớn thứ hai, đó là slư nam (chữ) và tiếng nói của người Tày. Hình như slư nam của người Tày và chữ nôm của người Kinh là “anh em kết nghĩa”. Vì chúng đều cùng hệ chữ ngữ tố dùng để ghi chép tiếng Kinh, tiếng Tày. Cả một kho tàng Slư nam Tày đồ sộ là thế, ông cha chúng tôi sáng tạo ra, để ghi chép lại những thư từ, điền sản, giáo huấn, thi ca… giờ đã hư hao hoang mục hoặc đã mất hẳn. Nay chỉ còn lác đác trong các sách mo then bụt tào. Nhưng các thày tào, thày mo trẻ ngày nay họ đã dùng chữ latin phiên âm vào bên cạnh để dễ bề hát xướng. Slư nam thực sự sắp trở thành phế tích để rồi. Đó là nỗi đau nhức nhối, nỗi buồn dằng dặc trong lòng những người con dân tộc Tày.
Tiếng mẹ đẻ cũng đang trong cơn ác mộng, không khéo rồi cũng sẽ bị khai tử nốt. Nếu đây là hiện thực thì sẽ là một mất mát quá lớn trong lịch sử đời sống tinh thần của người Tày. Thì đây, trẻ con trong các bản làng thuần Tày đều được các bố dạy con mình nói tiếng Kinh. Khi tôi hỏi tại sao không dạy con nói tiếng Tày? Họ bảo sau này nó đi học cho kịp các bạn. Tôi bảo, khi lên mười tôi mới bập bẹ tập nói tiếng Kinh. Học từ “Ăn mỏ cái nồi/Tuô hoi con ốc/Tuô nổc con chim/Tuô lình con khỉ/Mác mỷ quả mít…” mà bây giờ vẫn viết văn làm thơ bằng tiếng Kinh thì sao? Họ chỉ biết cười trừ… thế à! Và mọi chuyện vẫn cứ tiếp diễn.
Còn có một hiện tượng nữa cũng rầu lòng không kém. Đó là chuyện những người lớn. Trong đám tang chị gái tôi, có những người anh em trong họ hàng nội ngoại, đều là dân Tày, Tày nguyên bản. Nhưng họ cũng kính thưa tang chủ, kính thưa hương hồn… bằng tiếng Kinh lơ lớ. Đến mức này trong tôi thực sự không còn chỗ để than thở nữa.    
Cái mất tiếp theo là lề lối ứng xử giữa con người với con người trong quần thể xã hội và với thế giới tự nhiên. Ngày nay không còn cảnh gồng gánh, tay xách, vai mang giúp đỡ cho người già đi cùng đường. Đêm mùa đông không còn cảnh nàng dâu nấu nước ấm cho bố chồng, mẹ chồng ngâm chân trước lúc lên giường đi ngủ. Không còn cảnh trai thanh gái lịch nép vào bên cỏ, nhường đường cho các bậc cao niên. Trước nhà không còn cảnh lau mặt, rửa chân, soi gương trước lúc bước lên cầu thang vào nhà. Hình ảnh cái “ang” đựng nước rửa chân bằng đá, nay chỉ còn trong ký ức.
Cái mất tiếp theo là cảnh rước nước mới đầu năm. Sau tiếng pháo đùng đoàng đón giao thừa, nhà nhà các mẹ các chị các em mang thùng mang bẳng ra đầu nguồn suối hay mỏ rước nước mới. Cả cánh đồng rồng rắn toàn người là người thắp đuốc sáng rực đi trên bờ ruộng trong đêm ba mươi Tết. Những bó đuốc to bằng bắp đùi, cao bằng vai đang cháy đỏ rực. Những tép đuốc chẻ bằng trúc sào đã phơi khô, lửa cháy thơm như mùi nắng sấy. Khi đến bến nước, người ta chụm đuốc lại thành một cây lửa hừng hực. Rồi người ta thắp hương. Rồi người vái bốn phương tám hướng. Rồi người ta lầm rầm khấn: Con xin lạy Bố Trời, Con xin lạy Mẹ Nước! Con xin lạy Mẹ Đất! Con xin lạy Mẹ Bjoóc (Mẹ Hoa)... cho nhà xin bẳng nước mới để về đun xông hơi tắm cho ông bà tổ tiên. Để chúng con mang về làm cỗ trong ba ngày Tết. Cho chúng con được ăn cái tết sạch làu làu, uống miếng nước trong văn vắt. Nước mới là lộc Trời lộc ban…   
Văn hóa cổ truyền của người Tày dường như đang mất dần theo năm tháng. Khi đời sống vật chất con người trong xã hội ngày càng được cải thiện, từng bước được nâng cao. Ánh sáng văn minh soi chiếu vào đến tận cùng ngõ ngách các bản làng người Tày. Cuộc sống tiện nghi của con người ở thành phố và nông thôn không còn khoảng cách xa vời như trước đây. Vậy tại sao đời sống văn hóa tinh thần lại mất dần đi như thế?
Ngày còn tại thế, cha tôi hay nói: Khi mây còn ngủ trên đồng thì hãy chụm tay giữ lại. Khi mây đã lên đèo rồi mới thấy tiếc! Những nhân chứng về văn hóa Tày còn sống, ta hãy tranh thủ từng ngày từng giờ sưu tầm ghi chép lại, học lại. Học một cách nghiêm cẩn khẩn trương, không thì hối không kịp.
Nếu vậy, thay vì dành thời gian để bàn “giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc” một cách chung chung trong các hội nghị chuyên ngành. Hãy hành động ngay, lập tức bằng những việc làm cụ thể. Ví dụ như mở các lớp đào tạo chữ nôm Tày cho cán bộ, cho những người yêu văn hóa. Dạy tiếng mẹ đẻ cho con em người Tày hiện đang sinh sống trong các thành phố. Mở nhiều lớp bồi dưỡng, đào tạo cơ bản về văn hóa tinh thần, văn hóa vật chất của người Tày trong các trường văn hóa nghệ thuật…
Hiện nay, tại các thành phố lớn, chúng tôi thấy xuất hiện các câu lạc bộ tự phát. Họ mở các lớp truyền nghề do nghệ nhân dạy hát, dạy đàn cho học sinh, sinh viên người Tày. Tại một số cơ sở hoạt động mang tính chất đại chúng, hay tại các lễ hội…, nhiều chị em mang trên mình sắc phục Tày. Trong lòng họ tràn đầy niềm tự hào bởi nét đẹp nền nã, dung dị của người Tày. Đó là hình ảnh quê hương tươi rói vụt dậy. Chúng tôi được biết, nhiều cháu là con em dân tộc Tày hiện sinh sống cùng gia đình ở Hà Nội, họ có nhu cầu học tiếng Tày. Còn có người gợi ý muốn mời chúng tôi đứng lớp dạy tiếng Tày. Đấy là tín hiệu vui !
Văn hóa các dân tộc trên toàn thế giới nói chung, tự nó có một sức sống âm thầm bền bỉ. Văn hóa Tày cũng vậy, tự nó có năng lượng tiềm tàng, mạnh mẽ và tinh thần bất diệt ở trong lòng mỗi người con dân tộc Tày. Hãy chụm tay giữ khi mây còn ngủ trên đồng.
                       
Y Phương

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh