Hoàng An - Một nhà thơ nhiều khát vọng

Chủ nhật 22/03/2020 15:00

Những ngày giữa tháng Ba này, giới văn nghệ sĩ tỉnh nhà cùng chung nỗi buồn khi nghe tin nhà thơ Hoàng An đã về cõi vĩnh hằng. Dẫu biết chuyện sinh tử là quy luật của cuộc sống nhưng vẫn không khỏi xúc động khi mất đi một nhà giáo, một nhà thơ, một dịch giả tài năng.

Nhà thơ Hoàng An với cuốn “Nhật ký chang tù” (Nhật ký trong tù) do ông dịch ra tiếng Tày.

Ai từng đọc tác phẩm dịch của nhà thơ Hoàng An sẽ chung cảm nhận ở ông niềm đam mê sáng tạo. Nếu thời gian đang công tác, ông dành toàn bộ tâm huyết cho sự nghiệp giáo dục thì khi nghỉ hưu ông lại đầu tư lao động nghệ thuật, mà ở ông niềm đam mê đã quên đi sức khỏe và tuổi tác. Đời người thật ngắn ngủi, có khi niềm khát vọng chưa kịp thực hiện thì đã bước vào tuổi già. Những người tuổi cao thường tìm niềm vui sum vầy bên con cháu nhưng nhà thơ Hoàng An lại lao vào sáng tác với niềm đam mê cháy bỏng.

Nếu ai từng đọc thơ Hoàng An hẳn sẽ cùng chung suy nghĩ rằng ông là nhà thơ rất chỉn chu trong từng câu chữ. Ông luôn nghĩ những điều nhiều người không dám nghĩ, làm cái mà nhiều người không dám làm: đó là biên dịch tác phẩm sang tiếng Tày, Nùng. Sau tập thơ “Tàng Tơ” ra đời, ông dành toàn bộ tâm huyết tập trung vào biên dịch các tác phẩm khác như: Toẹn Kiều (Truyện Kiều); Chinh phụ ngâm; Nhật ký chang tù (Nhật ký trong tù).

Từng có nhiều dịp tiếp xúc với nhà thơ Hoàng An, tôi rất hiểu và trân trọng giá trị nghệ thuật qua những tác phẩm ông để lại cho đời. Tác phẩm “Nhật ký chang tù”, ông dịch trong bối cảnh như chạy đua với thời gian… Thấy ông trân trọng, nâng niu những "đứa con tinh thần" của mình trong niềm vui không bờ bến, tôi chợt hiểu vì trót mang trong mình tâm hồn nghệ sĩ mà ông tự nguyện dâng hiến những rung động của con tim để sáng tạo ra tác phẩm mà sự vinh quang không đo được bằng các danh hiệu.

Ông luôn tâm niệm rằng những ngày gian khổ, tối tăm nhất của cuộc đời vị lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trong nhà tù mà vẫn sáng tác được tập thơ “Ngục trung nhật ký”. Mình là thế hệ con cháu được sống sung sướng, có điều kiện làm việc đầy đủ thì việc dịch tác phẩm của Bác ra tiếng dân tộc với ý tưởng góp phần truyền bá rộng rãi hơn giá trị của tập thơ cũng là việc nên làm.

Rồi mai này, đồng bào các dân tộc Cao Bằng khi đọc “Nhật ký chang tù” sẽ tìm thấy ở đó hình tượng ông Ké ở Pác Bó ngày nào trong bộ trang phục người Nùng như chính người con của quê hương mình. Rồi không chỉ người Cao Bằng mà người Tày, Nùng trên khắp mọi miền của Tổ quốc và đang sinh sống ở nước ngoài cũng sẽ háo hức đón nhận và lưu giữ tác phẩm như báu vật.

Nhà thơ Hoàng An sinh năm 1936 tại làng Co Bây, xã Phong Châu (Trùng Khánh). Xuất thân trong gia đình có truyền thống hiếu học, ông nội và bố đều là những nhà nho nổi tiếng một vùng. Từ nhỏ, ông đã được bố dạy chữ Hán rồi đón thầy về dạy thêm. Nhà có 8 anh chị em đều được học hành. Ông là con út trong nhà nên ngoài học với thầy, với bố còn thường xuyên được  anh ruột kèm cặp, giúp đỡ. Những buổi chiều đi chăn trâu, ông thường mang theo sách vở để tự học.

Dù trong điều kiện thiếu thốn nhưng ông luôn có niềm đam mê và tìm được niềm vui trong từng con chữ. Thiếu bút, phải dùng ngọn trúc, ngọn tre non vót nhọn làm ngòi. Thiếu mực thì nhặt quả mồng tơi màu tím đem nặn lấy nước phơi nắng cho se lại để thay mực. Thiếu giấy thì tận dụng những bản đã viết cũ ngâm nước vôi rồi đem phơi khô dùng lại. Năm ông lên 10 tuổi, có phong trào bình dân học vụ, ông vừa học vừa cùng thầy đi dạy chữ cho học sinh các lớp bình dân và cũng từ ấy trong ông bắt đầu ấp ủ ước mơ được làm thầy giáo.

Sau những năm tháng vừa lao động vừa miệt mài học cấp 1, cấp 2 ở quê nhà, năm 21 tuổi, ông được tuyển đi học Trường Trung cấp Sư phạm miền núi Trung ương tại Hà Nội. Trong thời gian này, do đã có vốn chữ Hán nên ông lại say sưa tự học tiếng Trung qua Đài Tiếng nói Việt Nam. Sau thời gian 3 năm, ông tốt nghiệp và về dạy môn Toán tại Trường cấp II Hòa An. 2 năm sau ông được điều về công tác tại Ty Giáo dục Cao Bằng. Trong thời gian 3 năm công tác tại Ty Giáo dục, ông vinh dự được kết nạp vào Đảng. Tháng 9/1965, ông được chọn đi du học tại Trung Quốc. Đây là thời gian tạo dấu ấn quan trọng trong cuộc đời ông.

Với niềm háo hức của tuổi trẻ, cuộc hành trình xuất ngoại với thời gian 4 ngày liên tục bằng cả ô tô và tàu hỏa mới đến được Học viện Sư phạm Nam Kinh thuộc tỉnh Giang Tô (Trung Quốc) học Trung văn. Trong thời gian học ở đây, ông được tín nhiệm bầu làm Bí thư chi bộ du học sinh của khóa. Sau khi củng cố kiến thức chữ Hán do các thầy người Trung Quốc trực tiếp dạy trong 1 năm, ông chuyển đến học chuyên Khoa Toán tại Trường Đại học Nam Đại, Nam Kinh, nhưng chỉ được 6 tháng thì xảy ra đại cách mạng văn hóa nên cuối năm 1966, toàn bộ du học sinh lần lượt được đưa trở về học trong nước.

Thời gian 4 năm học ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, ông lại được phân học chuyên Khoa Văn. Sau khi tốt nghiệp, ông về dạy môn Văn và làm Hiệu trưởng Trường cấp III Hòa An, rồi làm Trưởng Phòng Giáo dục huyện Hòa An, sau đó lại chuyển về làm Hiệu trưởng Trường cấp III Thị xã. Thời gian công tác ổn định nhất là chục năm cuối làm Trưởng Phòng Tổ chức Sở Giáo dục Cao Bằng.

Ngẫm lại chặng đường quá nửa cuộc đời cống hiến cho sự nghiệp giáo dục có lúc thăng,  lúc trầm, nhiều khi tưởng cứ ở đâu khó khăn thì cấp trên lại điều ông đến và mỗi lần như vậy, tâm hồn nghệ sĩ lại bừng thức để giúp ông vững tin và có thêm nghị lực thực hiện những ý tưởng, hoài bão cao đẹp của cuộc sống. Rồi sau khi hoàn thành nhiệm vụ củng cố đơn vị cơ sở vững mạnh, ông lại được điều đến đơn vị mới với những khó khăn mới đặt lên vai của người quản lý.

Dù ở cương vị nào, ông luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ với tất cả lòng yêu nghề cao quý cống hiến cho sự nghiệp "trồng người". Những công lao đóng góp của ông đã xứng đáng được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú. Những ai đã từng gần gũi với nhà thơ Hoàng An hẳn đều có chung nhận xét: Ông là một mẫu người tận tụy với công việc. Nghiêm khắc trong dạy bảo con cháu. Gương mẫu, đức độ trong tu dưỡng, rèn luyện. Đó là những tố chất để ông có một tổ ấm hạnh phúc và những người con, người cháu ngoan, thành đạt.

Nhà giáo, dịch giả Hoàng An vẫn còn ẩn chứa những điều mà không nhiều người biết, kể cả người thân vì ông không muốn nói về mình. Với việc dịch cuốn “Ngục trung nhật ký” ra tiếng Tày, Nùng từ bản chữ Hán càng chứng tỏ ông không những là người giỏi tiếng Trung mà còn hiểu rất sâu sắc cả văn hóa và  vốn ngôn ngữ Tày, Nùng. Trong tác phẩm này, tác giả đã vận dụng hoàn hảo kiến thức của giáo viên dạy môn Văn với tâm hồn thi sĩ để mang tập thơ của Bác Hồ kính yêu đến gần gũi hơn với đồng bào quê hương mình.

Thế là ông đã lặng lẽ đi vào cõi vĩnh hằng. Thắp nén hương tiễn biệt ông mà lòng bỗng thấy trống vắng, bâng khuâng. Dưới nắng xuân nồng nàn lan tỏa lại chợt nhớ những vần thơ dịch trong Toẹn Kiều: “Lẳp lè én voỏng nưa rườn/Mủa xuân pây đảy sloong bươn, kỷ vằn/Nhả kheo, kheo tẳm tin bân/Cáng lì kỷ nậu khao hăn thang chàn/Xinh mình dám khảu bươn slam? Cần pây slại mạ kha càm toọng slương”. Mong rằng những vần thơ này sẽ là cây cầu nối ông đến với cụ Nguyễn Du cùng đàm đạo về những nhân vật nhiều trắc ẩn.

Phan Nguyệt

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh