Bản sắc văn hóa miền núi trong văn xuôi Cao Duy Sơn

Thứ bảy 14/10/2017 08:00

Với những đóng góp không nhỏ cho sự nghiệp văn học dân tộc thiểu số nói riêng, văn học nước nhà nói chung; tiếp nối Giải thưởng văn học Đông Nam Á, Cao Duy Sơn đã có tên trong danh sách vinh danh Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2017.

Nhà văn Cao Duy Sơn.
Cao Duy Sơn - nhà văn chung thủy với miền núi
Cuộc đời Cao Duy Sơn như đã được “lập trình” với văn chương. Qua bao chặng đường, ngã rẽ cuộc đời thì cuối cùng văn chương vẫn là nơi bám vịn thủy chung, để làm nên tên tuổi nhà văn tự nhận mình đã được “ăn lộc” miền núi. Là người mang hai dòng máu Kinh - Tày, Cao Duy Sơn vốn được dung dưỡng trong một không gian văn hóa Tày thấm đẫm, nơi vừa có cái thô ráp của đá, vừa có chất trữ tình, lãng mạn của hoa trái, của sông Quây Sơn và tình người miền núi thuần hậu, chất phác. Cái nghiệp văn đã vận vào cuộc đời và từ đó, anh lặng lẽ học hỏi, tập trung thời gian, sức lực, âm thầm viết. Cao Duy Sơn đã nỗ lực không ngừng trong hành trình sáng tạo và thành công ở thể loại văn xuôi. 
Cao Duy Sơn thuộc thế hệ thứ hai trong đội ngũ nhà văn dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại với tư duy đằm chắc; xa lạ với sự ồn ào, náo nhiệt; cặm cụi, miệt mài viết để được thỏa lòng đam mê, thả buồn vui, gieo đời mình vào từng con chữ. Là nhà văn có trách nhiệm với nghề, mỗi khi đặt bút viết, anh thường cẩn trọng, suy nghĩ, viết chậm và kỹ. Vì thế, một năm, anh cũng chỉ viết được chừng 2 truyện ngắn, đôi chương tiểu thuyết. Tập truyện ngắn "Ngôi nhà xưa bên suối" (7 truyện ngắn), nhưng anh đã viết trong suốt 4 năm. Tiểu thuyết “Chòm ba nhà” khiến tác giả của nó phải miệt mài suốt 3 năm có lẻ. Ròng rã suốt 4 năm (2001 - 2004), anh mới có tiểu thuyết “Đàn trời”. Vì thế không lạ khởi nghiệp từ năm 1984, đến nay anh mới viết 5 cuốn tiểu thuyết (Người lang thang, Cực lạc, Hoa mận đỏ, Đàn trời, Chòm ba nhà); 5 tập truyện ngắn (Những chuyện ở lũng Cô Sầu, Những đám mây hình người, Hoa bay cuối trời, Người chợ và Ngôi nhà xưa bên suối).
Cao Duy Sơn quan tâm đầu tiên đến chất lượng tác phẩm cả về nội dung và nghệ thuật. Những giải thưởng liên tục từ năm 1993 đến nay là sự ghi nhận của các hội chuyên ngành (Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam); giải thưởng của Hội hữu nghị (Hội Hữu nghị Việt - Nhật); giải thưởng quốc tế (Giải thưởng văn học Đông Nam Á); và Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (2017).
Tự khoanh vùng đề tài để khám phá bề sâu vỉa tầng văn hóa dân tộc
Văn xuôi Cao Duy Sơn gặt hái được nhiều thành công ở đề tài miền núi. Sáng tác ấy hướng trọn về quê hương miền núi như sự tự ý thức nghiệp văn là cơ hội để đứa con Co Xàu bày tỏ tình yêu thiết tha của mình với quê mẹ. Viết văn là trả một “món nợ” với quê. Viết văn là cuộc viễn du về với cội nguồn. Vì thế, dẫu viết gì thì hiện thực vẫn trở đi, trở lại với Quây Sơn, Trùng Khánh, Co Xàu, Cao Bằng… Anh đã tự khoanh vùng đề tài để khám phá bề sâu vỉa tầng văn hóa dân tộc "Cả đời tôi chỉ đeo đuổi đề tài miền núi". Đành rằng, đề tài miền núi là thế mạnh của người dân tộc thiểu số sống ở miền núi, nhưng các nhà văn dân tộc Kinh như: Tô Hoài, Nguyên Ngọc, Ma Văn Kháng, Trung Trung Đỉnh... đã chứng minh một cách thuyết phục miền núi, dân tộc thiểu số không chỉ “độc quyền” của “người đồng mình”. Vấn đề không phải là ai viết mà quan trọng phải hiểu, phải thuộc vùng văn hóa “Tìm tòi và sáng tạo phản ánh con người và đời sống xã hội vào văn học là trách nhiệm của nhà văn. Song nếu không thuộc nó thì đừng vội dấn thân”. 
Nương vào văn hóa Tày, Cao Duy Sơn đã tinh lọc bản sắc văn hóa Tày, chọn lọc những nét tinh tuý nhất để tái tạo một thế giới nghệ thuật đặc sắc mang phong cách riêng. Tác phẩm của Cao Duy Sơn hướng trọn ở mảnh đất đã nuôi mình. Dù sống giữa phố xá ồn ã, dù đã “bứng” khỏi đất Tày, nhưng tâm can Cao Duy Sơn lúc nào cũng tha thiết vọng cố hương. Tập truyện ngắn “Ngôi nhà xưa bên suối” được anh viết giữa xôn xao phố thị, giữa khoảng nghỉ của những trang tiểu thuyết. Đó là cuốn sách anh tâm đắc nhất, bởi nó hiện hữu chính cuộc đời nhà văn.
Anh thành thật nhận thấy những tác phẩm viết ra có cảm giác chỉ như gió thoảng, chỉ như những vụn vàng được nhặt nhạnh quanh một mỏ vàng lớn. Cái mỏ vàng lớn đó chính là quê hương Trùng Khánh. Mỗi lần ngồi đối diện với trang viết, hình ảnh quê hương lại hiện trong ký ức. Vì thế, chất liệu hiện thực của quê hương với những con người mình đã sống, đã gắn bó ngồn ngộn hiện về như cuốn phim ký ức. Nhà văn đã “giải mã” lai lịch cái tên Co Xàu bằng truyện ngắn “Tượng trắng”; bức tranh quê hương - nơi đó có dòng sông Quây Sơn trong xanh thăm thẳm, mát ngọt; có bản Háng Vài vẫn những tường nhà không trát áo lộ đá hộc nâu xám, mái ngói âm dương nối nhau như những toa tàu bị bỏ quên giữa thung lũng hoang lạnh trong Ngôi nhà xưa bên suối, Những chuyện ở Lũng Cô Sầu”…
Với bút pháp chân thật, không khoa trương, không màu mè hình thức, Cao Duy Sơn đã dựng lên chân dung những con người miền núi với những đặc trưng giản dị, chân chất, mộc mạc, dẫu cuộc đời không ít nỗi buồn đau. Anh tự khóc cười với nhân vật của mình cùng những cung bậc số phận gian truân, bất hạnh, khổ đau, cùng quẫn, nhưng giàu nghị lực vươn lên, như lão Phủ trong “Hoa bay cuối trời”; lão Sấm trong “Người ở muôn nơi”; lão Khuề, bà Ban trong “Âm vang vong hồn”… Điều đặc biệt, nhân vật của anh thường có cuộc sống nội tâm phong phú, phức tạp, mạnh mẽ, dữ dội, lặng lẽ, kín đáo… 
Thế giới nghệ thuật của Cao Duy Sơn thể hiện bằng tấm lòng yêu thương con người. Vì thế, nhân vật trong tác phẩm của anh luôn ánh lên tình người miền núi chân thật, mộc mạc, đôn hậu, giàu đức hy sinh… Nếu có phải đối mặt với những bi kịch xót đau thì tinh thần lạc quan vẫn là âm hưởng chủ đạo. Trong "Ngôi nhà xưa bên suối", anh đã viết về vùng đất có ngọn núi Phja Phủ, về những vẻ đẹp của một thời, về những thầy giáo từ miền xuôi lên dạy học ở miền núi, đặc biệt anh dành bao trân quý xây dựng nhân vật thầy Hạc.
Tiểu thuyết “Chòm ba nhà” tập trung nói về đề tài chiến tranh, về 6 người bạn cùng San lớn lên ở đó. Sự hiểu biết sâu rộng, tìm tòi, khám phá không mệt mỏi của tác giả đã tạo ra sự hấp dẫn mà trong đó những nhân vật, tình tiết, sự kiện, hiện tượng trong đó không lặp lại những người đi trước, những người cùng thời, cũng như không tự lặp lại chính mình. Nhà văn đã khéo léo xây dựng chân dung những con người mang tâm hồn, tính cách của dân tộc Tày và đậm văn hóa Tày. San là nhân vật có tính cách, phát hiện tầng sâu văn hóa dân tộc Tày.
Các nhân vật của Cao Duy Sơn trở thành mô típ nghệ thuật “thử thách của bi kịch”. Dẫu phải đối mặt với bất cứ bi kịch nào thì cuối cùng nhân vật vẫn bộc lộ bản chất thực của mình. Và chính từ những thử thách ấy, chất “vàng mười” vốn giấu kín trong cát bụi lam lũ đã ngời sáng”, như Hoán trong “Thằng Hoán”, lão Khuề trong “Âm vang vong hồn”, lão Sấm trong “Người ở muôn nơi”… Việc chọn những con người nhỏ bé và bất hạnh làm nhân vật trung tâm đã “khẳng định những phẩm chất tốt đẹp của họ ẩn kín đằng sau những manh áo rách, những ngoại hình dị dạng… là bộc lộ một trái tim yêu thương, cảm thông, xót xa đến tận cùng với kiếp người đau khổ”. 
Sáng tạo dựa trên nguồn văn hoá dân gian
 Cao Duy Sơn đã bám chặt vào văn hoá dân gian để sáng tạo. Anh sử dụng bút pháp so sánh, ví người phụ nữ với những loài hoa của núi rừng Việt Bắc (hoa kim anh, hoa đào, mác hủ, hoa gạo…). Dân gian Tày lấy hoa làm cảm xúc, làm tiêu chí; tình yêu lấy hoa làm chuẩn mẫu; quan niệm đạo đức lấy hoa làm nền tảng… Vì thế, miêu tả ngoại hình thiếu nữ dân tộc, Cao Duy Sơn thường lấy hoa làm chuẩn mực. Đây chính là một biểu hiện của tâm hồn Tày và cách tư duy, cách nói dân gian Tày. Người Tày “múc nước thành hoa, vục nước thành hoa”. Hoa là biểu tượng cho lòng tin và bản lĩnh “Hoa em bốn mùa không héo. Hoa này lửa đốt không cháy, hoa này thả nước không trôi” hoặc “Hoa em ngời tận mắt, hoa em sáng tận mặt”… Cách tư duy, biểu hiện của tâm hồn Tày đã thấm đẫm trong từng trang viết: “Gã mơ màng nhìn nàng thả vào nồi nước đang sôi trên bếp một nắm hoa cúc khô vàng rồi lại một nắm hoa đào tháng Ba đỏ bầm như những giọt máu cô đặc…”; “Mặt nàng đẹp như bông đào trong nắng. Nụ cười bẽn lẽn, mắt chớp như cánh vẫy của loài bướm hoa” hay “Cô gái có đôi mắt đẹp như con chim lửa, cổ trắng như ruột cây chuối rừng, môi đỏ như cánh hoa gạo” (Những đám mây hình người)… 
Coi trọng văn hóa, Cao Duy Sơn như một vị “đại sứ văn hóa” khéo léo giới thiệu văn hóa Tày độc đáo. Đó là các tục lệ cưới xin của người Tày, tục lấy tên con để gọi thay tên cúng cơm của người mẹ, tục cướp vợ trong truyện ngắn “Song Sinh”; tục đi chợ tình U Lâm vào dịp tháng Giêng để những đôi tình nhân xưa được thổ lộ tâm tình, ôn lại kỷ niệm trong truyện “Chợ tình”; tục khai vài xuân, tục gọi hồn (Súc Hỷ); tục tảo mộ (Tượng trắng); tục diễn rối đầu gỗ (Hòn bi đá màu trắng); lễ hội tranh đầu pháo (Hoa bay cuối trời)... 
Ngôn ngữ trong truyện ngắn của Cao Duy Sơn vừa giàu sắc thái bản địa vừa thể hiện nét độc đáo, sáng tạo trong việc vận dụng ngôn ngữ Tày - Việt. Chính sự phối hợp thuần thục, linh hoạt song ngữ Tày - Việt đã góp phần giúp người đọc hiểu sâu hơn về cuộc sống, về con người, về bản sắc văn hóa Tày. Điều này được thể hiện qua việc sử dụng lối ví von, so sánh liên tưởng gần gũi với cách tư duy của người dân miền núi, sử dụng nhiều thành ngữ, tục ngữ, lối nói phuối pác, phuối rọi của văn học dân gian Tày. 
Hình ảnh so sánh thường gần gũi thiên nhiên: “Thầy Hạc người mỏng như màng tre” (Ngôi nhà xưa bên suối); sự giận dữ: “như có trăm nghìn tiếng ông sấm bà sét đuổi đánh nhau” (Dưới chân núi Nục Vèn)…; so sánh gần gũi lối cảm của người miền núi: “Khơ khỏe như con trâu tơ đực chưa vực cày”; tâm trạng lần đầu rung động trước cô gái đẹp: “trái tim Khơ bỗng như ngựa non cuống vó muốn lồng khỏi ngực” (Hoa bay cuối trời); “đầu óc trở nên trơ đặc như lõi nghiến”; “em thanh sạch như nước Bó Slao” (Những đám mây hình người)… 
Cao Duy Sơn đã băng qua những vỉa tầng văn hóa miền núi để sáng tạo. Ngòi bút ấy đã phác thảo lên những bức tranh sinh động về cuộc sống ở vùng cao miền núi phía Bắc. Ở đó có những vỉa tầng văn hóa truyền thống dân tộc dày đặc được hun đúc qua hàng trăm thế hệ… Bằng bút pháp dung dị, nhẹ nhàng, thông qua đặc tả diễn biến nội tâm nhân vật trong từng cốt truyện, Cao Duy Sơn đã gửi đến độc giả một thông điệp: mất văn hóa nghĩa là mất gốc”.
Cao Duy Sơn ý thức rất cao việc vận dụng, khai thác vốn văn hóa dân gian. Anh là một trong ít nhà văn dân tộc thiểu số đã thành công khi tạo được dấu ấn sâu đậm trong lòng độc giả. Sức hút của các tác phẩm của Cao Duy Sơn chính là cách nhà văn chuyển tải nét văn hóa của đồng bào miền núi, khai thác tận vào những điều sâu thẳm và cả những bi kịch phận người. Chính vì vậy, câu chuyện của anh không chỉ đơn thuần là chuyện kể mà còn là một sự khám phá về đất và người.  
Kết
Trong dòng chảy chung của văn học miền núi đương đại, Cao Duy Sơn là một trong những gương mặt tiêu biểu, xuất sắc và đã tạo được dấu ấn riêng trong lòng người đọc. Chung thân với mảng đề tài miền núi, nhà văn dự định sẽ viết về người Co Xàu di cư vào Tây Nguyên. Anh muốn tìm hiểu chất văn hóa Tày có biến đổi sau nhiều năm xa quê. Bản sắc văn hóa độc đáo, cái gì còn giữ được, cái gì đã mất. Với ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, Cao Duy Sơn tiếp tục tiến xa trên con đường văn chương mà anh đã chọn, tiếp tục gặt hái thành công với quan điểm “Cái hay nhất vẫn là cái mình chưa viết ra được”…              
Lê Thị Bích Hồng

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh