Bạn đang xem: Trang chủ » Văn hóa

Phong tục đám cưới của người Tày, Nùng ở Cao Bằng

Chủ nhật 05/08/2018 06:00

Theo phong tục của người Tày, Nùng ở Cao Bằng, để tổ chức đám cưới phải trải qua nhiều thủ tục mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc về quy mô cũng như hình thức tổ chức, trang phục, các món ăn...

Chú rể làm lễ tại đám cưới của người Tày. Ảnh: Hứa Huyền

Khi nam nữ đến tuổi trưởng thành và mong muốn có cuộc sống gia đình riêng. Được sự nhất trí của hai bên, gia đình nhà trai chọn ngày lành tháng tốt, trực tiếp nhờ anh em trong dòng họ đến nhà gái để xin lấy ngày tháng năm sinh của cô gái, một số nơi gọi là xin "tám chữ", mà địa phương gọi là "au minh" có nghĩa là mệnh số. Khi được nhà gái nhất trí cho mang về, nhà trai đem ngày tháng năm sinh của đôi trai gái đến thầy tào xem tướng số để biết duyên của 2 người có phù hợp hay không, có kỵ húy điều gì không... Nếu số mệnh không hợp thì trả lại nhà gái. Khi thầy tào xem số mệnh hợp nhau, gia đình nhà trai sẽ dạm ngõ nhà gái.
Đầu tiên, nhà trai nhờ họ hàng làm từ 200 - 300 chiếc bánh dày, nhiều bánh chưng, gà thiến, 1 con lợn để đưa đến nhà gái làm thủ tục cầu hôn. Khi đồ lễ được đưa đến, nhà gái có trách nhiệm mời họ hàng, anh em làm cỗ để tiếp đón nhà trai. Đồng thời nhà trai đưa cho nhà gái một khoản tiền để mua sắm các đồ dùng phục vụ ngày cưới. Khi đã thống nhất xong các thủ tục, hai bên trong dòng họ đi đến thống nhất ngày tổ chức đám cưới cho đôi uyên ương. Ngày cưới được quyết định, nhà gái dùng khoản tiền nhà trai hỗ trợ mua sắm chăn màn, đồ dùng sinh hoạt. Nếu gia đình nhà trai còn ông bà, nhà gái phải sắm thêm bộ chăn màn để tặng riêng. Theo quan niệm dân gian, nhà gái luôn mua sắm nhiều đồ dùng mang sang nhà trai để tỏ rõ sự quan tâm đến nhà chồng cũng như khẳng định về tiềm lực kinh tế của nhà gái.
Trước đây cuộc sống của nhiều gia đình khó khăn, để tổ chức đám cưới cho các con cháu cũng là một vấn đề lớn của gia đình. Gia đình thường có sự chuẩn bị trong thời gian dài, có thể nhờ họ hàng hỗ trợ về lợn thịt, rượu, gạo... Số lương thực, thực phẩm được hỗ trợ không phải trả ngay, mà chờ đến gia đình mình đã mượn tổ chức đám cưới cho con cháu thì mình mới hỗ trợ lại.
Trong ngày cưới, trang phục cô dâu chú rể, mặc dù không cầu kỳ, nhiều màu sắc, nhưng nó thể hiện được bản sắc riêng của dân tộc Tày, Nùng. Cô dâu mặc áo dài bằng chất liệu vải chàm truyền thống, đi kèm với quần lụa màu đen. Trên đầu khăn chàm vấn tóc, khăn vải chàm cuốn nhiều vòng quanh thắt lưng; nhà có điều kiện, cô dâu có trang sức bằng bạc. Chú rể mặc áo, quần bằng vải chàm, không cầu kỳ như cô dâu.  
Khi tổ chức đám cưới, nhà trai đưa sang nhà gái bánh dày, bánh chưng, gà thiến, lợn đã thịt sẵn, nếu gia đình nhà gái còn ông bà thì thêm một con lợn quay. Đám cưới của nhà trai và nhà gái thường được tổ chức trong hai ngày. Buổi chiều ngày đầu tiên, ông bà quan lang dẫn đoàn chú rể và sang nhà gái làm thủ tục thắp hương để trình diện với tổ tiên, họ hàng bên nhà gái. Đến nhà gái, theo phong tục, để thử tài của quan lang nhà trai, đại diện nhà gái đưa ra những câu đố bằng tục ngữ Tày, Nùng. Cuộc đối đáp có thể kéo dài từ 10 - 20 phút, sau đó gia đình nhà gái mở cửa chính, tháo dây chỉ, hoặc chổi gác ngang cửa... mời đoàn nhà trai vào nhà. Bước đầu tiên ông quan lang cầu khấn lên tổ tiên bằng những vần thơ, rồi chú rể thắp hương lên bàn thờ và được coi là con trong gia đình. Mọi thủ tục ra mắt sau khi hoàn tất, quan lang đưa chú rể mời rượu, thuốc lá... ông bà, anh em họ hàng, khách khứa. Tiếp đó, chú rể chung vui cùng bạn bè.
Sáng ngày thứ hai, nhà trai tổ chức đoàn đến nhà gái đón dâu; mọi thủ tục khi đến nhà trai cũng được diễn ra tương tự, khi quan lang đọc đến người thân thì cô dâu đưa cho miếng trầu, điếu thuốc; đồng thời tặng cho người thân vật phẩm là khăn mặt; đồng thời người được cô dâu tặng món quà bỏ vào chậu, khay uống nước tiền và chúc cho đôi vợ chồng trẻ sống với nhau hạnh phúc trăm năm, gặp nhiều may mắn trong cuộc sống.
Tùy theo từng địa bàn, một số phong tục đã được cải biên cho phù hợp với xã hội hiện tại. Họ hàng đến dự đám cưới thường mang tới một gánh đồ đến dự cưới, trong đó có bốn bơ gạo, hai lít rượu và được gọi là “tháp khẩu lẩu”; người từ xa đến dự cưới thường kèm theo một trẻ nhỏ, nếu gia đình không có trẻ nhỏ có thể nhờ trẻ em của gia đình khác và được gọi là đi gánh hộ, tiếng địa phương là “pây thư tháp”. Khi đi, người lớn gánh đồ dự cưới, nhưng đến đầu làng nhường cho trẻ nhỏ gánh đến trước bậc cầu thang của nhà sàn. Gia đình cử một số người đón gánh đồ mang vào nhà; khi đám cưới kết thúc, gia đình trả lại gánh đồ, trong đó có vài lạng thịt lợn, hoặc chân giò, gói xôi, bánh dày có nhân đường và không đường.
Bạn bè đến dự đám cưới thường mang những tặng phẩm là chiếc gương, bộ ấm chén, phích đựng nước... Khi ăn, họ ghép bàn với nhau. Sau khi ăn xong, cuộc vui thường diễn ra các tiết mục văn nghệ, hoặc tổ chức “lày cỏ”... Cuộc vui tiếp diễn đến sáng hôm sau.
Gia đình thường nhờ anh em họ hàng tự chế biến các món ăn trong ngày cưới không cầu kỳ, mà mang nét đặc trưng riêng, đậm bản sắc dân tộc. Thường là thịt gà, vịt, lợn luộc và áp chảo rán, đậu phụ rán, các món rau xanh. Đặc biệt, trong mâm cỗ không thể thiếu món canh làm bằng chuối rừng.
Đám cưới kết thúc, sau ba ngày gia đình nhà trai tiếp tục làm thủ tục đón cô dâu lần đầu; đồ lễ đến nhà gái là xôi nếp, gà thịt sẵn, để bày lên bàn thờ tổ tiên nhà gái. Gia đình nhà trai cử chị em phụ nữ trong dòng họ và một trẻ nhỏ để gánh đồ lễ. Sau khi ăn cơm xong, cô dâu giúp gánh đồ trả lễ ngược lại về gia đình nhà chồng. Khi đến nhà chồng, cô dâu bắt tay vào công việc như gánh nước, giã gạo, sàng sẩy và các việc nội trợ trong gia đình. Tuy nhiên trong thời gian đầu cô dâu chưa ở bên nhà chồng thường xuyên, có thể chủ động trở về nhà cha mẹ đẻ bất cứ lúc nào; khi nhà chồng có công việc lại nhờ em gái ruột hoặc thiếu nữ trong dòng họ đến đón. Sau khi đi lại nhiều lần bên nhà chồng, đến khi có đứa con đầu tiên, người vợ trẻ mới thực sự ở bên nhà chồng và từ đó cuộc sống đôi vợ chồng trẻ mới thực sự được bắt đầu.
Hiện nay xã hội ngày càng phát triển, một số thủ tục đám cưới của dân tộc Tày, Nùng đã cải tiến nhưng vẫn còn nhiều nét truyền thống mang sắc thái văn hóa riêng biệt, đậm bản sắc dân tộc.

Văn Hiếu

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh