Bạn đang xem: Trang chủ » Văn hóa

Nghệ nhân dân gian - người “giữ lửa” văn hóa truyền thống

Thứ tư 06/06/2018 06:00

 Bài 2: Khó khăn trong phong tặng danh hiệu cho các nghệ nhân dân gian

Nghệ nhân dân gian có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc gìn giữ, truyền bá giá trị và bản sắc văn hóa truyền thống đặc sắc của dân tộc. Để ghi nhận và tôn vinh nghệ nhân đang tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 62/2014/NĐ-CP quy định về xét tặng danh hiệu Nghệ nhân Nhân dân (NNND), Nghệ nhân Ưu tú (NNƯT) trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể. Thực hiện Nghị định, tỉnh ta đã và đang tiến hành rà soát, lập hồ sơ cho các nghệ nhân để xét tặng NNƯT, NNND. Tuy nhiên, quá trình thực hiện còn nhiều vấn đề đáng để bàn.

Nhiều nghệ nhân dân gian vì nhiều lý do nên không có điều kiện để làm thủ tục được công nhận là Nghệ nhân Ưu tú, Nghệ nhân Nhân dân.

THỦ TỤC, HỒ SƠ PHỨC TẠP
Có thể nói, việc phong tặng danh hiệu NNƯT, NNND có ý nghĩa quan trọng, không chỉ là ghi nhận, đánh giá cao đối với những đóng góp to lớn của các nghệ nhân mà còn cho thấy sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với những người tài năng và tâm huyết với văn hóa dân tộc.
Đồng chí Đỗ Ngọc Tuyên, Trưởng Phòng Tổ chức - Pháp chế, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch cho biết: Để được phong tặng danh hiệu NNND, NNƯT, các nghệ nhân phải làm (hoặc nhờ làm) hồ sơ. Hồ sơ gồm có: Bản kê khai thành tích đề nghị xét tặng danh hiệu cùng các tài liệu chứng minh tri thức, kỹ năng và những đóng góp đối với sự nghiệp bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể. Các tài liệu này gồm: băng, đĩa hình, ảnh mô tả tri thức và kỹ năng nắm giữ. Cùng với đó, hồ sơ còn có bản sao có công chứng hoặc chứng thực giấy chứng nhận hoặc quyết định tặng thưởng huân chương, huy chương, giải thưởng, bằng khen và các tài liệu khác liên quan. Tuy nhiên, trên thực tế, trong quá trình hành nghề, truyền dạy, bảo tồn vốn cổ, không phải nghệ nhân nào cũng có điều kiện tham gia các cuộc thi, liên hoan, các hội nghị, hội thảo, các dự án sưu tầm, bảo tồn để có cơ hội được khen thưởng. Cũng như nghệ nhân thường hoạt động, hành nghề trong đời sống dân gian, vốn đã “tự thân vận động”, lại không có cơ quan, đơn vị chủ quản nên cũng khó có được sự bình xét, đánh giá để ghi nhận những đóng góp, cống hiến của họ... Chưa kể đa số các nghệ nhân dân gian là người lao động ở nông thôn, cao tuổi, thậm chí là người dân tộc thiểu số, có người không biết chữ, không biết công nghệ hiện đại để ghi hình, làm băng đĩa... Những yêu cầu đó của một hồ sơ đề nghị phong tặng danh hiệu NNND, NNƯT thật sự quá khó khăn và phức tạp đối với các nghệ nhân dân gian trên địa bàn tỉnh.
Đó là hồ sơ đề nghị phong tặng danh hiệu NNND, NNƯT nói chung, nhưng theo quy định của Nghị định số 62, muốn trở thành NNND, người thực hành di sản trước đó buộc phải đạt danh hiệu NNƯT. Trong khi đó, các nghệ nhân phần lớn đã cao tuổi, muốn trở thành NNND trước tiên phải làm thủ tục để trở thành NNƯT, sau đó đợi khi được Nhà nước phong tặng rồi mới tiếp tục làm thủ tục đề nghị NNND, điều đó thật sự là “cả vấn đề” đối với tuổi của các nghệ nhân. Bởi trên thực tế tại tỉnh ta đã có trường hợp Nghệ nhân Ưu tú Hoàng Minh Nhất, ở xóm Nà Mu, xã Chí Viễn, huyện Trùng Khánh, năm 2015, khi vừa làm hồ sơ xong để trình công nhận NNƯT, đang chờ kết quả xét duyệt đã mất do tuổi cao. Chưa kể các NNND phải “phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể trong phạm vi cả nước”, trong khi phần lớn các di sản mang tính khu biệt vùng, miền, dân tộc, chẳng hạn như hát then, đàn tính chỉ có ở vùng dân tộc Tày - Nùng, Lễ hội Pháo hoa chỉ có ở huyện Quảng Uyên, Thạch An... thì các nghệ nhân dân gian của tỉnh khó có được cơ hội xét tặng danh hiệu NNND.
THIẾU KINH PHÍ VÀ CHƯA THỰC SỰ ĐƯỢC QUAN TÂM
Có một thực tế nữa theo Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch cho biết, đó là kinh phí cho công tác triển khai hướng dẫn và xác lập hồ sơ để đề nghị xét tặng danh hiệu NNND, NNƯT còn khó khăn, chưa được bảo đảm vì phần lớn nghệ nhân hiện đang sinh sống ở nông thôn, thậm chí ở các huyện vùng sâu, vùng xa nơi điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn của tỉnh. Có lẽ vì vậy cấp ủy, chính quyền và các ngành chức năng ở cơ sở chưa thực sự quan tâm về việc rà soát, thống kê các nghệ nhân dân gian ở cơ sở để có hướng phát huy vai trò, đánh giá, nhận xét, hướng dẫn làm hồ sơ đề nghị cơ quan có thẩm quyền công nhận các danh hiệu cho nghệ nhân.
Bà Nông Thị Bích Liên, ở tổ 6, phường Tân Giang (Thành phố) được phong tặng NNƯT năm 2015 chia sẻ: Khi được cán bộ Phòng Văn hóa - Thông tin Thành phố thông báo làm hồ sơ để xét tặng danh hiệu NNƯT tôi cũng thấy mừng vì giờ được Đảng, Nhà nước quan tâm đến đội ngũ những người hoạt động phong trào văn hóa, văn nghệ ở cơ sở. Nhưng khi làm hồ sơ thấy rất nhiều khó khăn, phức tạp. Tôi cũng đi hội thi, hội diễn nhiều cũng có giấy khen, bằng khen nhưng việc lưu giữ hình ảnh, băng đĩa thì khó vì tuổi già, không biết công nghệ và cũng không biết có ngày phải cần những thứ này nên không nhờ ai chụp ảnh hay quay hình. Hồ sơ phải qua 3 cấp xét duyệt, chưa kể lấy ý kiến trong khu dân cư, rồi mới ra cấp phường, xã, Thành phố. Tương tự, ông Bế Sơn Trung, xóm Bản Co, xã Triệu Ẩu (Phục Hòa) đang được làm hồ sơ trình xét tặng danh hiệu NNƯT năm 2018 này cho biết: Tôi biết hát then đàn tính từ nhỏ và khi mới 16 tuổi đã theo các ông Giàng (Bụt) đi làm nghi lễ then cho bà con quanh vùng. Đến nay, tôi đã có gần 40 năm đi theo nghề làm nghi lễ hát then, nhân dân trong vùng, thậm chí các huyện bạn đều biết và mời tôi đến làm lễ. Nhưng trên thực tế tôi chưa bao giờ đi tham gia biểu diễn cấp huyện, tỉnh hay khu vực. Chỉ đến năm 2015, khi có Nghị định 62 quy định về xét tặng danh hiệu NNND, NNƯT trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể, thì cán bộ văn hóa huyện, xã mới mời tôi tham gia vào các hội diễn của huyện, tỉnh. Trong xóm, ngoài tôi ra, những người đi trước thuộc bậc thầy của tôi cũng hát hay, đàn giỏi, có nhiều sách cổ quý, biết nhiều làn điệu hát then cổ nhưng nay tuổi đã già, sức yếu, có người đã mất. Nhưng do trước đây chưa có một chủ trương, hướng dẫn nào cụ thể về việc cần bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa của cha ông nên họ không mở lớp truyền dạy cho thế hệ sau. Đó cũng là một điều đáng tiếc cho di sản văn hóa hát then, đàn tính của dân tộc Tày, Nùng.
Theo Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, năm 2014, khi tiến hành lập danh sách, hồ sơ để xét duyệt, các cơ sở gửi lên 16 hồ sơ, nhưng qua xét duyệt, thẩm định các cấp, chỉ có 10 hồ sơ đạt yêu cầu. Trong số các hồ sơ không đạt có nhiều nghệ nhân rất xứng đáng được vinh danh bởi những kiến thức quý giá họ nắm giữ cũng như lòng đam mê, nhiệt tình với hoạt động cộng đồng. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vấn đề tôn vinh nghệ nhân cũng còn nhiều hạn chế nên nhiều địa phương không mặn mà lắm với việc rà soát, lập danh sách hay hướng dẫn cho các nghệ nhân làm thủ tục để xét tặng danh hiệu NNND, NNƯT.

 Tính đến nay, toàn tỉnh có 1 nghệ nhân được truy tặng, 9 nghệ nhân được phong tặng NNƯT trong lĩnh vực Nghệ thuật trình diễn dân gian, Lễ hội dân gian, gồm: Hoàng Minh Nhất, xóm Nà Mu, xã Chí Viễn; Chung Văn Hần, xóm Thông Huề 2, xã Thông Huề;  Trương Minh Ngọc, xóm Nà Mu, xã Chí Viễn; Lê Quang Tăng, xóm Bó Thua Ma, xã Phong Châu (Trùng Khánh); Nông Thị Bích Liên, Tổ 6, phường Tân Giang (Thành phố); Nông Thị Ngần, Bản Khau, xã Hạnh Phúc; Thang Văn Thụ, Phố cũ, thị trấn Quảng Uyên (Quảng Uyên); Nông Thanh Phong, xóm Nà Khoang, thị trấn Hùng quốc (Trà Lĩnh); Hoàng Văn Thiệu, xóm Nà Ngài, xã Trọng Con (Thạch An); Hoàng Thị Bích Thu, xóm Đông Chương, thị trấn Xuân Hòa (Hà Quảng). Hiện nay, đang trình hồ sơ đề nghị phong tặng NNND cho NNƯT Lê Quang Tăng và NNƯT cho 5 nghệ nhân dân gian khác. 
Minh Hòa

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh