Bạn đang xem: Trang chủ » Văn hóa

Lão Khờ

Chủ nhật 20/10/2019 15:00

Ông ta xuất hiện nơi phố huyện đã lâu, từ đâu về không ai rõ, cũng không ai rõ quê thật của lão, vợ con ra sao. Chính quyền cũng bỏ quên tên lão trong sổ hộ khẩu thì phải. Vì sống góc chân núi chẳng thuộc khu phố nào. Người thì nói ông ta tên Đức, người thì nói Khờ - cái tên vẫn gọi để phù hợp với tính cách ông ta hằng ngày. Thôi cứ gọi ông Khờ như mọi người thường gọi vậy và cũng không rõ tên gọi này ai đã đặt cho ông.
Ông Khờ có dáng nhỏ bé, da sạm, mặt nhỏ, rúm ró, nhìn vẻ ngoài chậm có vẻ ngu ngơ vô hồn; nói chung khuôn mặt, dáng đi không phổ biến trong xã hội. Tuổi ông ta cũng khó đoán, gần năm mươi, hay ngoài năm mươi bởi môi luôn thâm, mắt quầng của người thiếu ngủ lâu ngày. Ông sống tại căn lều ai đi qua cũng chẳng muốn vào dù lỡ gặp mưa to, gió lớn; nơi đó điện không, giường không, độc chỉ có cái phản gỗ mục ông nhặt ở đâu về không rõ kê trên bốn ụ đá và gạch xếp làm chân giường; manh chiếu cũ rách đã quá lâu năm nên mang màu thâm sẫm; bốn bức căn lều quây bằng bạt quảng cáo người khu chợ vứt đi; tài sản duy nhất có cái hòm gỗ nơi đó có hai bộ quần áo nhàu, bạc màu được mặc đi mặc lại.
Ông Khờ rất ít nói, khi đi mặt luôn cúi như giấu trong mình một nỗi buồn đau. Ông ta sống bằng việc lấy củi bán, lau dọn hàng, gánh phân thuê trong vụ mùa. Điều đặc biệt lão không bao giờ mặc cả giá, muốn trả bao nhiêu thì trả; lúc thì được bữa trưa, cái bánh, vài chục nghìn hay bát cơm nguội lạnh... và có lẽ mọi người gọi ông là ông Khờ từ những lý do này.
Gần một năm nay, lão Khờ được ông Lương phố núi đón hẳn về nhà nuôi và làm công cho gia đình. Nhà ông ta thì thật lắm việc: Vụ mùa thì gánh phân ra ruộng, cấy lúa; vụ ngô thì trồng, vun, thu hái, phơi khô; lúc nông nhàn thì lau nhà, xếp hàng rào đá quanh vườn, dọn dẹp. Ông Khờ chưa bao giờ kêu ca, phàn nàn, chăm chỉ như một người máy không bao giờ cạn nguồn năng lượng. Ông Lương phố huyện đón Khờ về nuôi, mới nghe qua chuyện ai cũng nghĩ tưởng nhân hậu, thương người nhưng ngẫm kỹ đó lại là kiểu bóc lột người và không trả công; lão Khờ làm ở đó ai hỏi được trả bao nhiêu một tháng mà lão đến làm, lão Khờ chỉ kiệm lời nói:
- Lão giúp thôi.
- Giúp không à?
- Vâng! Ông Lương vất vả nhờ thì giúp một thời gian.
- Lão bóc lột ông đấy, ông Khờ ơi!
Ông cười im lặng.
- Làm cật lực như ông mà chỉ nuôi ăn, khéo tôi cũng đón ông về nhà tôi vậy. Khờ ơi là Khờ. Người đâu mà khờ hết chỗ nói... Nhẫn tâm thế. Và ai biết ông cũng một câu nói vậy.
Lão Khờ dạo này nông nhàn không phải ra ruộng nên được ông Lương sai quét dọn nhà cửa, lau chùi từ tầng trên xuống. Với ông Lương, thế là nhàn rồi, nắng không đến mặt, mưa không ướt đầu mà lại được ăn cơn hai bữa cùng gia đình; một sự ưu ái vì đức tính chăm chỉ, không biết phàn nàn, cãi lại.
Nhà ông Lương được tiếng là khá giả, có hai cháu, một trai và một gái đang học lớp 12; con ông Lương đi làm xa, đâu mãi ngoài tỉnh ít về. Việc trông giữ, thuê người dạy cháu ông, ông Lương đều thuê gia sư. Để đỡ tốn tiền, ông đi mấy nhà hàng xóm gọi thêm 3 đứa cùng lớp chúng nó nữa. Tổng cộng là 5 cháu và mời bằng được một thầy giáo trẻ đang có tiếng dạy giỏi ở trọ tại trung tâm phố huyện người gốc dưới xuôi về tận nhà dạy tuần ba buổi chiều.

Minh họa: Hoàng Chinh

Cứ mỗi chiều thầy giáo trẻ đến nhà dạy ôn cho bọn trẻ, lão Khờ thường hay quanh quẩn gần đó như nghe lỏm; lão làm chậm tay hơn, cửa nhà lau kỹ hơn, kỳ cọ rất tỉ mỉ đến hai, ba lần trên một vị trí. Lão nghe lời người thầy dạy như nuốt từng lời, như những đứa trò nhỏ chăm chú học bài trước một chân trời mới đang được khám phá. Cặm cụi, chân tay như vô hồn, không rõ lão Khờ nghĩ gì và cũng không ai quan tâm lão; bởi mọi người nhìn lão như người vô học, lao động chân tay bao năm tháng nay.
Chiều đó nắng nóng, thầy giáo trẻ giao bài tập để 5 đứa học trò làm bài; thầy giáo rảnh ra ngồi uống nước, lão Khờ vội nhanh tay đến pha trà mời kính cẩn:
- Mời thầy ạ. Lão đưa chén trà chậm như một học trò ngoan.
- Vâng! Cứ kệ tôi.
- Hỏi thầy không phải: Thầy quê tận đâu về đây dạy ạ? Thầy giáo lúc đó mới ngước mắt ngang nhìn lão trong khi vẫn đang dõi theo mấy trò làm bài.
Trả lời cho phải phép, thầy giáo trẻ nói như mặc định và cũng không quan tâm người hỏi: Tận Nam Định xa lắm.
- Thầy học sư phạm 1 hay sư phạm 2 vậy?
Thầy giáo trẻ thoáng ngạc nhiên về lão: Ông biết trường sư phạm sao?
- Dạ vâng. Tôi biết vì ngày xưa có đi qua đấy mới biết được trường.
Lão Khờ từ tốn hỏi tiếp: Thày dạy văn, chắc ngày sinh viên kết quả học tập tốt lắm?
Thầy giáo trẻ bắt đầu quan tâm nhìn lão Khờ. Nhu cầu bộc bạch và ngạc nhiên  lớn dần. Vẫn là câu trả lời mang tính thăm dò: Dạ, cháu học khá thôi. Thầy bắt đầu từ tốn và chú ý cho câu trả lời.
- Trong chương trình Ngữ văn trung học hiện nay, thầy tâm đắc bài dạy nào nhất?
Thầy giáo trẻ từ từ đặt chén nước xuống bàn nhìn lão, nhìn kỹ và quan sát lão. Hơn chục năm dạy học chưa ai dám hỏi thầy câu hỏi này trừ đồng nghiệp cùng môn.
- Tác phẩm Chí Phèo - Vừa nói thầy vừa nhìn chằm chằm vào mặt lão vì không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Thầy đang nghĩ phố huyện này đồng môn không ai giỏi hơn thầy.
Lão chầm chậm nói và đầy suy ngẫm: Chí Phèo của Nam Cao quả là kiệt tác sau Tắt đèn của Ngô Tất Tố, mặc dù tác phẩm xuất hiện sau vài năm và cùng dòng văn học. Câu chuyện Chí Phèo ra đời thực lòng được nhà văn viết từ lời kể của bà vợ ở quê. Truyện có giá trị kiệt tác và thường xuất phát từ giá trị nhân đạo, cao hơn hết là giá trị nhân văn của tác phẩm mà đến nay vẫn chưa khám phá hết. Nghiên cứu tác phẩm ai cũng quan tâm đến giá trị nhân đạo sâu sắc, lên án chế độ thực dân nửa phong kiến trước năm bốn nhăm... điển hình là bố con Bá Kiến..., mà theo lão thì tính nhân hậu của Thị Nở lại đẹp vô cùng, hiếm ai như người phụ nữ đó... Lão nói một hồi không ngừng nghỉ như chưa bao giờ được nói say sưa như lên đồng, tỉ mỉ, sâu sắc, mới mẻ.
Thầy giáo trẻ không nói được câu gì, nhìn lão Khờ như người hành tinh lạ sa xuống mặt đất, một sư phụ hiểu thấu đáo về văn học hiện thực. Thầy từ từ nhấc ấm tích nhỏ, rót từ tốn vào chén nâng hai tay mời lão Khờ, im lặng, kính cẩn, trân trọng.
Thầy nhìn ra ngoài, nhìn lũ học trò đang mải làm bài góc nhà và hỏi:
- Ông là ai vậy?
- Lão ư? Lão là cành cây khô nơi chân núi. Hôm nay chỉ có thầy biết cành cây này.
Thầy giáo thoáng lúng túng và nghĩ: Gỗ trầm hương đây.
Hết giờ làm bài, thầy giáo bước đến chỗ học trò thu bài kiểm tra; trước khi ra về thầy cúi thấp người chào lão.
- Chào ông, cháu về.
Cuối tháng đó, lão Khờ không làm cho nhà ông Lương nữa, lui về túp lều cũ, lấy củi bán mỗi sớm đầu chợ. Người mua củi trở thành khách quen lúc này là thầy giáo trẻ dạy văn. Nhìn thấy nhau, thầy kéo lão đi ăn sáng, chở cả củi, cả lão về khu trọ. Ai cũng ngạc nhiên về sự tâm giao kỳ lạ. Sự thay đổi lớn hơn, thầy rủ thêm cả bạn đồng môn đến túp lều của lão nói chuyện, ngày nghỉ lại đón về khu nội trú đồng nghiệp trong trường mời lão ăn cơm, nói chuyện hết ngày.
Rồi ngày nhận được quyết định chuyển vùng về quê, thầy giáo đến lều thăm lão Khờ, trên tay mang một vài món đồ, hai cuốn sách.
Như những người bạn thân, thầy khẽ nói:
- Mai cháu về quê dạy rồi. Không có gì, cháu và đồng nghiệp biếu chú bộ quần áo và hai cuốn sách về nghiên cứu phê bình văn học. Cháu cảm ơn chú rất nhiều đã giúp cháu nhận ra chân nghĩa giá trị cuộc sống và văn học. Cháu về, sau sẽ còn lên thăm đồng nghiệp và học trò, mong chú giúp đồng nghiệp cháu nhiều nữa...
- Thầy về quê hẳn ư?! Gửi thầy hai chữ, nhớ lấy TÂM PHÁP làm gốc cho nghề dạy. Nó sẽ là gốc của mọi phương pháp. Hãy nhớ cho thầy nhé: Tài là do tình sinh ra, tài cao là bởi tình sâu đấy.
Họ ngồi như vậy cả chiều trong túp lều, trên nền đất không bàn, không ghế, không nước chè, rồi rời đi trong cái nắm chặt tay như những cố nhân đang phải chia tay đang sợ vì thời gian; mắt cả hai thì rưng rưng lệ...

Sơn Hà

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh