Bạn đang xem: Trang chủ » Văn hóa

Kinh nghiệm ứng xử ngoài xã hội của người Tày ở Cao Bằng

Thứ bảy 16/01/2021 05:00

Trong di sản văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Tày ở Cao Bằng, mảng văn bản đúc rút kinh nghiệm ứng xử rất đa dạng, nội dung giáo dục cao, góp phần làm phong phú thêm kinh nghiệm ứng xử giữa con người với con người trong gia đình, bản làng, cộng đồng của dân tộc Tày nói riêng và các dân tộc khác nói chung. Những kinh nghiệm quý báu đó từng được sàng lọc qua nhiều thế hệ, ban đầu lưu truyền trong dân gian, sau đó được một số nho sĩ ghi chép lại, truyền tải đến ngày nay.

Những lời thơ, câu văn hàm súc, triết lý và ý nghĩa ấy lúc đầu được lưu truyền từ người này sang người khác bằng phương thức truyền miệng, về sau được ghi chép bằng chữ Nôm Tày và chữ Tày theo phiên âm la tinh. Ví dụ như nói về tình cảm giữa con người với con người, đồng bào dân tộc Tày thường truyền nhau câu: "Lảc mạy tẩn, lạc cần rì" (Rễ cây ngắn, rễ người dài). Hay ca ngợi giá trị của con người quý hơn mọi giá trị tiền bạc được các thế hệ ông cha đúc kết lại: "Ngần chèn tang tôm nhả/Tha nả tảy xiên kim" (Tiền bạc như đất cỏ/Danh dự tựa ngàn vàng).

Văn bản Nôm Tày xuất hiện và ghi chép văn chương, còn trong đời sống hằng ngày tiếng Tày là phương tiện giao tiếp phổ biến. Đó là lời cha ông nói với con cháu, là hàng xóm nói với láng giềng, là lời nam thanh hát đối với nữ tú qua những câu sli, lượn như: "Tính vuồn tính khát sai tả coóc/Mèng vuồn mèng hăn bjoóc dạn tom/Cáy vuồn cáy hăn non dạn khuế/Lủc vuồn lủc hăn mẻ dạn giăng/Nghĩa vuồn nghĩa hăn căn dạn phuối...”. Dịch: “Đàn tính  buồn, đàn đứt dây/Ong buồn hoa nở ong bay chẳng vờn/Gà buồn lười bới sâu ăn/Con buồn thấy mẹ ngại ngần dạ thưa/Người buồn gặp nghĩa thờ ơ/Lời sao ngại nói biết chờ đợi chi?”.

Trong mối quan hệ ngoài xã hội, cổ nhân dạy dỗ chúng ta phải biết ứng xử "kính trên, nhường dưới", biết kính trọng và quý trọng nhân cách của con người. Trong một số văn bản Nôm Tày tư tưởng nhân đạo, coi trọng con người, đề cao giá trị con người trở thành tư tưởng nổi bật: Tua cần hơn ngần chèn (Con người hơn tiền bạc). Con người được coi là tinh hoa của trời đất.

Cụ thể hơn nữa, người nam giới và người nữ giới được so sánh với những giá trị cao nhất như vàng, bạc: Cần chài tự bjoóc kim, Cần nhình tự bjoóc ngần (Nam tựa hoa vàng, Nữ tựa hoa bạc).
Trong tiến trình lịch sử bảo vệ và phát triển dân tộc, người Tày không ngừng vật lộn với tự nhiên khắc nghiệt và chống chọi quyết liệt với loài ác thú và giai cấp thống trị. Họ ý thức được sức mạnh của lực lượng cộng đồng: Lai cần chượng lai cần lẻ loọc/Cò đoỏc chượng cò đoọc lẻ thai. (Nhiều người nuôi nhiều người thì sống/Độc thân nuôi độc thân thì chết).

Nhu cầu về sự sống, về đời sống đòi hỏi hơn bao giờ con người phải gắn liền với cộng đồng. Cộng đồng ở đây trước hết là những người trong cùng một huyết thống, cùng một dòng họ. Từ cơ sở đó sản sinh quan niệm tốt đẹp về làng xóm láng giềng cùng cảnh ngộ. Lầy cà tốc tầư, Pỉ noọng tốc tỉ (Mái gianh ở đâu, Anh em ở đó).

Cũng giống như ở người Kinh dưới đồng bằng có quan niệm: “Bán anh em xa mua láng giềng gần” thì ở người Tày rất quý trọng bà con hàng xóm láng giềng. Slíp pỉ noọng tàng quây, Bấu táy hua đuây tò tó (Mười anh em đường xa, Không bằng người ở sát đầu cầu thang).

Để giữ vững tình thân ái giữa hàng xóm láng giềng, người Tày luôn luôn nhắc nhở nhau nêu cao đức tính thật thà trong ăn ở: Kin ngay phuối khát (Ăn ngay nói thật).

Không thể sống lá mặt lá trái, dù cá nhân có sắc sảo tài ba đến đâu: Khêm bấu sliểm sloong thua (Kim không nhọn hai đầu). Đó được coi là bản lĩnh quan trọng của con người.

Đồng thời lại phải sống sao cho cao thượng, kiên quyết không bao giờ làm điều xấu xa để rơi xuống vũng bùn tội lỗi: Nhẳn slưa guà, Bấu nhẳn đa đát (Thà chịu hổ vồ, Chứ không chịu điên đảo).

Về cách cư xử đối với làng xóm, không phải bao giờ trong cuộc sống của con người cũng được về phần mình tất cả mọi cái đẹp mĩ mãn, lẽ thường tình giống như dòng sông bên lở, bên bồi, con người có được, có mất, có đầy, có vơi, cho nên trong lời ăn, tiếng nói hằng ngày, đồng bào dân tộc Tày đã đưa ra một nguyên tắc nhân sinh: Bảng nặm bá bố đảy têm (Ống nước đổ không bốc lại được đầy thưng).

Có thể nói, dựa vào nhau để sống còn, nhường nhịn để chan hòa, đồng thời cũng là để công cuộc sản xuất và đấu tranh đạt đến thắng lợi. Đó là cơ sở then chốt để người Tày đề cao giá trị con người với những phẩm hạnh mà nó cần phải có. Đó cũng là kinh nghiệm lịch sử xã hội lớn nhất, căn bản nhất, sáng ngời lên từ lời ăn, tiếng nói hằng ngày của đồng bào dân tộc Tày Cao Bằng nói riêng và cộng đồng người Tày ở khắp Việt Nam nói chung.       

Triệu Thị Kiều Dung

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh