Bạn đang xem: Trang chủ » Non nước Cao Bằng

Trung tướng Đàm Đình Trại

Thứ ba 30/03/2021 05:00

Trung tướng Đàm Đình Trại, dân tộc Tày, sinh ngày 25/12/1947 tại xã Đào Ngạn  (nay là xã Ngọc Đào, Hà Quảng). 18 tuổi xuân, anh xung phong lên đường nhập ngũ, từ đó, cuộc đời anh gắn bó với binh nghiệp, là “Bộ đội Cụ Hồ” trải qua cuộc kháng chiến chống Mỹ. Suốt chặng đường dài chiến đấu, đồng chí luôn nỗ lực, phấn đấu không ngừng, trọn đời cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và trở thành vị tướng lĩnh đức độ, tài năng của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Đầu những năm 1960 của thế kỷ XX, thực hiện khẩu hiệu “tất cả vì miền Nam ruột thịt”, phong trào “thanh niên ba sẵn sàng” dấy lên sôi nổi, khích lệ thanh niên, học sinh, sinh viên tòng quân, lên đường xông pha nơi tiền tuyến lớn. Lớp lớp thanh niên Cao Bằng hăng hái hưởng ứng tham gia như ngày hội. Trong khí thế ấy, tháng 2/1965, Đàm Đình Trại đăng ký gia nhập quân đội và trở thành chiến sĩ của Đại đội 14, Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 202, Bộ Tư lệnh Thiết giáp. Phấn khởi, tự hào là một chiến sĩ thuộc đơn vị binh chủng tăng thiết giáp, đồng chí ra sức học tập, nắm vững các thao tác về binh khí, kỹ thuật, làm chủ thiết giáp để sớm ra chiến trường, tiên phong lập công. 

Tháng 10/1965, đồng chí là chiến sĩ Đại đội 2, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 202, Bộ Tư lệnh Thiết giáp. Do yêu cầu nhiệm vụ mới, tháng 8/1967, đồng chí được điều động sang binh chủng đặc công, bộ đội đặc biệt tinh nhuệ, là chiến sĩ Đại đội 25, Sư đoàn 308, còn gọi là Sư đoàn Quân tiên phong, một trong những đơn vị chủ lực cơ động đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Với ý thức, trách nhiệm cao và hoàn thành tốt nhiệm vụ trong công tác, rèn luyện, chiến đấu, tháng 4/1968, đồng chí vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, khi ấy tròn 21 tuổi. Đó là bước ngoặt quan trọng đánh dấu sự trưởng thành của đồng chí trong toàn bộ cuộc đời quân ngũ của mình, từ đây đồng chí có điều kiện cống hiến cho Tổ quốc nhiều hơn nữa.

Tháng 11/1968, đồng chí là cán bộ chính trị Tiểu đoàn 28, Sư đoàn 308, trong thời gian đó, đồng chí cùng đồng đội tham gia Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh, chiến đấu dũng cảm và giành thắng lợi, góp phần đập tan chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ. Tháng 10/1969, đồng chí được đề bạt làm Trung đội trưởng, Đại đội 4, Tiểu đoàn 19, Trung đoàn 88, Sư đoàn 308; tháng 5/1971, đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Chính trị viên Đại đội 4, Tiểu đoàn 19, Trung đoàn 88, Sư đoàn 308.

Đồng chí đã chỉ huy đơn vị trong đội hình chiến đấu sư đoàn suốt 52 ngày đêm tại Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, loại khỏi vòng chiến đấu hàng nghìn tên địch, thu nhiều vũ khí, khí tài quân sự, góp phần làm thất bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ. 

Năm 1972, đồng chí cùng đơn vị tham gia Chiến dịch Xuân - Hè, trực tiếp chiến đấu theo hướng Trị - Thiên, quần lộn với địch và hứng chịu bom đạn ác liệt nhất trong 81 ngày đêm để giữ vững thành cổ Quảng Trị, góp phần làm nên Tượng đài chiến sĩ bất tử hào hùng, lừng danh bên dòng sông Thạch Hãn. Chiến thắng Xuân - Hè năm 1972 đã làm thay đổi cục diện chiến trường, đẩy “Việt Nam hóa chiến tranh” đến bờ vực phá sản, tạo nên ưu thế của ta hơn hẳn địch trên cục diện của Hội nghị Pa-ri năm 1973, buộc chúng phải thừa nhận thất bại và ký kết trên bàn đàm phán, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Tháng 8/1972, đồng chí được đề bạt làm Chính trị viên Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 88, Sư đoàn 308; tháng 1/1973, đồng chí được cấp trên cử đi học tại Học viện Chính trị Bộ Quốc phòng. Kết thúc chương trình học tập, tháng 6/1974, đồng chí được phân công làm Trợ lý Phòng Tổ chức Cục Chính trị Quân đoàn 1, còn gọi là Quân đoàn Quyết thắng.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975, đồng chí và đơn vị hành quân thần tốc đánh thẳng vào phía Bắc Sài Gòn, bao vây tiêu diệt địch ở Phú Lợi, Bến Cát, Bình Dương, Lai Khê, Tân Uyên, tấn công đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu Quân lực Việt Nam cộng hòa; phối hợp chặt chẽ với các quân đoàn bạn bao vây công kích và hợp điểm tại Dinh Độc Lập. Ngày 30/4/1975, đồng chí cùng đơn vị có mặt đúng nơi tập kết nội đô, hòa cùng niềm vui của cả dân tộc mừng mùa xuân đại thắng. Từ đây, cả nước thống nhất đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. 

Từ tháng 2/1980 - 8/1987, đồng chí được điều động và đề bạt nắm giữ những vị trí công tác quan trọng như: Phó Ban Tổ chức Sư đoàn 322, Quân đoàn 26, Quân khu 1; Trưởng Phòng Tổ chức Cục Chính trị, Quân đoàn 26; Phó Sư đoàn trưởng về chính trị Sư đoàn 322, Quân đoàn 26, Quân khu 1. Tháng 11/1988, đồng chí là Phó Chỉ huy trưởng về chính trị Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn. Tháng 8/1998, đồng chí được đề bạt giữ chức Phó Tư lệnh Quân khu 1 về chính trị, Bí thư Đảng ủy Quân khu 1.

Là một cán bộ mẫn cán của quân đội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành xuất sắc, được đồng đội trân trọng, quý mến. Tháng 11/1999, đồng chí vinh dự được Nhà nước sắc phong quân hàm Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam; tháng 7/2003, đồng chí vinh dự được Nhà nước thăng quân hàm từ Thiếu tướng lên Trung tướng Quân đội nhân dân Việt Nam; tháng 12/2004, đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; tháng 8/2008 đồng chí nghỉ hưu theo chế độ.

Trọn đời gắn bó với quân ngũ, trên cương vị nào đồng chí cũng nêu cao tinh thần, trách nhiệm trong công tác chính trị, tư tưởng; động viên cán bộ, chiến sĩ tạo nên sức mạnh tổng hợp đồng bộ, vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ. Suốt chặng đường dài vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dưng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đồng chí có nhiều cống hiến, xứng đáng là vị tướng lĩnh đức độ, tài năng của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đồng chí được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng nhì; Huân chương Chiến công hạng nhất, hạng nhì, hạng ba; Huân chương Kháng chiến hạng ba và nhiều danh hiệu cao quý khác.

Lê Chí Thanh

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh