Bạn đang xem: Trang chủ » Non nước Cao Bằng

Đền Vua Lê - Những dấu ấn lịch sử

Thứ bảy 21/02/2015 08:00

Hòa An là huyện nằm bao quanh thành phố Cao Bằng với tổng diện tích đất tự nhiên 667,67 km2, gồm 20 xã, thị trấn. Không chỉ là vùng trọng điểm về sản xuất nông nghiệp của tỉnh, đây còn là vùng đất giàu truyền thống cách mạng, lịch sử văn hóa, nơi có nhiều điểm di tích lịch sử cách mạng gắn liền với phong trào cách mạng của tỉnh và cả nước, trong có đền Vua Lê thuộc thôn Cao Minh Thượng, nay là làng Đền, xã Hoàng Tung.

Đền Vua Lê ở làng Đền, xã Hoàng Tung (Hòa An) từng là cung điện của vua Mạc ở Cao Bằng thế kỷ XVII.
LỊCH SỬ CỦA NGÔI ĐỀN

Đền Vua Lê dựng trên một gò đất cao phía Bắc thành Na Lữ, gò này gọi là gò con Long (tức gò rồng) - trong thành có 4 gò đất nổi lên được các triều đại vua phong kiến đặt cho 4 tên: Long, Ly, Quy, Phượng. Theo truyền thuyết và những tư liệu lịch sử: Đền Vua Lê vốn là cung điện trong thành Na Lữ. Thành do Cao Biền nhà Đường xây dựng, sau Nùng Tồn Phúc (cha của Nùng Trí Cao) tiếp tục xây dựng từ thế kỷ XI. Nùng Tồn Phúc là thủ lĩnh châu  Quảng Nguyên. Thời Lý Thái Tông niên hiệu Thông Thụy, năm thứ 6, tức năm 1039, tự xưng là Chiêu Thánh Hoàng đế đổi tên châu Quảng Nguyên làm nước Trường Sinh; rồi cho xây thành, xây cung điện tại Na Lữ.

Năm 1414, giặc Minh cai trị nước ta, ở Cao Bằng, chúng đặt quan Thái thú cho đóng quân ở gò Đống Lân, thành Na Lữ, bắt nhân dân đóng sưu thuế nặng, đàn áp và hà hiếp, cuộc sống của nhân dân vô cùng cực khổ. Trước tình hình đó, Bế Khắc Thiệu - một hào trưởng giàu có ở Cao Bằng đã chiêu quân đứng lên khởi nghĩa, đồng thời liên kết với Nông Đắc Thái tổ chức đánh giặc. Nông Đắc Thái giỏi việc cung nỏ, có đội quân hàng trăm người, bắn trăm phát trăm trúng; Bế Khắc Thiệu giỏi việc quân, được tôn làm chủ tướng. Với ngọn cờ khởi nghĩa “Khắc Thiệu vi vương”, “Đắc Thái vi thần” đã giành được thắng lợi sau trận kịch chiến ở Nà Khuổi (tháng 9-1426), tiêu diệt trên 4.000 quân giặc, bắt sống tướng giặc. Bế Khắc Thiệu xưng là Bế Đại vương, phong cho Nông Đắc Thái là Nông Nguyên soái đóng đô ở thành Na Lữ, cho quân tu sửa lập lại cung điện năm 1430.

Năm 1592, nhà Mạc chạy lên Cao Bằng, Mạc Kính Cung chiếm lấy thành Na Lữ lập cung điện. Sau ba đời sinh sống ở Cao Bằng đến thời Mạc Kính Vũ bị quân Lê - Trịnh đánh bại. Nhà Mạc bỏ cung điện và thành Na Lữ chạy sang Trung Quốc.

Năm Chính Hòa thứ 3 đời vua Lê Hy Tông, tức năm 1682, quan trấn thủ Cao Bằng là Lê Văn Hải đã tâu xin vua Lê cho sửa chữa thành Na Lữ cũ làm đền thờ vua Lê Thái Tổ (Đền Vua Lê hiện nay). Lấy áo bào và thanh kiếm thờ ở chỗ ngai vàng.

Trong thời kỳ chống Pháp, đền Vua Lê là trung tâm hoạt động bí mật của Đảng ta, điểm hội tụ của những người dân yêu nước. Tại Đền Vua Lê, năm 1936, đồng chí Hoàng Đình Giong từ nước ngoài về nước phối hợp với đồng chí Nam Cao, triệu tập cuộc họp Tỉnh ủy mở rộng tại đền Vua Lê để phổ biến Nghị quyết Đại hội I của Đảng, củng cố tổ chức Đảng, thành lập “Đoàn thanh niên phản đế”, làm nòng cốt vận động quần chúng nhân dân các dân tộc đấu tranh.

Năm 1942, tại đền Vua Lê diễn ra hội nghị chỉ đạo của Tỉnh ủy Cao Bằng gồm 6 đại biểu: Lã, Hoàng Sâm, Hoàng Tô, Lê Khương, Dương Mạc Thạch, Lê Tòng; hội nghị nhất trí cử đồng chí Lê Tòng làm Bí thư.

Năm 1944, tại đền diễn ra hội nghị Liên tỉnh Cao - Bắc - Lạng, do đồng chí Lã chủ trì cuộc họp, đồng chí Lã được hội nghị nhất trí bầu làm Bí thư. Tháng 9/1945 tại đền là nơi tập trung tiễn quân đi Nam Tiến.

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Nhà máy Giấy Cao Bằng đã sơ tán vào đền Vua Lê, sau đó Trường Đảng của tỉnh đến dựng lớp học phía trước đền. Qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, đền được tu sửa nhiều lần.

KIẾN TRÚC ĐỀN VÀ LỄ HỘI

Đền Vua Lê thờ vua Lê Thái Tổ (tức Lê Lợi Cao Hoàng Đế) nằm trong quần thể di tích thành Na Lữ. Đền xây theo kiểu hình chữ tam gồm 3 nhà, 7 phòng, tường xây bằng gạch vồ, mái lợp ngói máng, cột kèo, hoành phi bằng gỗ. Trên các hoành phi có trạm trổ hình long, phượng. Cửa đền mở theo hướng Đông Nam thông ra bờ sông Mãng. Xung quanh đền xây tường thành dài 600 m, trước mặt đền có hai sân rộng khoảng 1.000 m2. Trước đây, trong đền có nhiều hiện vật như: trống, chiêng, thanh kiếm, áo bào, bia..., hiện nay chỉ còn 2 lư hương bằng gang, 1 bia bằng đã khắc chữ Hán Nôm chìm ghi lại họ tên những người quyên góp tu sửa lại đền, 3 cây đèn thắp. Ngày 20/4/1995, đền Vua Lê được Nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia, là nơi tập trung lễ hội, sinh hoạt văn hoá, văn nghệ của nhân dân trong vùng.

Đến nay, đền được trùng tu, khôi phục lại một số hiện vật, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân. Hội đền Vua Lê được tổ chức vào ngày mùng 6 tháng Giêng âm lịch hằng năm. Ngoài phần lễ được tiến hành ngay từ sáng sớm dưới sự có mặt đông đảo nhân dân trong vùng, phần hội bao gồm các hoạt động văn hóa văn nghệ, trò chơi dân gian: cờ tướng, cờ người, đẩy gậy, kéo co…, thu hút đông đảo người dân tham gia.

Đền Vua Lê là di tích có giá trị về mặt lịch sử giáo dục truyền thống đấu tranh chống quân xâm lược của nhân dân ta, đồng thời là di sản văn hóa nghệ thuật có giá trị về mặt kiến trúc nghệ thuật của dân tộc. Di tích lịch sử đền Vua Lê khẳng định giá trị tinh hoa văn hóa, niềm tự hào về trang sử truyền thống đấu tranh cách mạng vẻ vang của dân tộc nói chung và Cao Bằng nói riêng. Để phát huy giá trị của di tích, công tác quản lý, bảo tồn, tôn tạo, khai thác được địa phương chú trọng, đảm bảo tính khoa học. Bảo tồn và phát huy giá trị di tích không chỉ là trách nhiệm mà còn thể hiện sự tri ân đối với cha ông và thế hệ đi trước. Năm 2014, được Nhà nước đầu tư, Đảng bộ, chính quyền xã Hoàng Tung (Hòa An) tuyên truyền, vận động, nhân dân hiến 400 m2 đất giải phóng mặt bằng phục vụ công tác thi công tuyến đường vào Đền Vua Lê. Tuyến đường dài 1,6 km, mặt đường rộng  5m; trong đó, lòng đường 3,5 m đổ bê tông dày 0,2 m; kinh phí đầu tư gần 3 tỷ đồng.

Di tích lịch sử đền Vua Lê là món quà quý giá của ông cha để lại. Để tiếp tục phát huy giá trị di tích, cần có các biện  pháp phối hợp đồng bộ của các cơ quan, ban, ngành của tỉnh cũng như địa phương; nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân trong việc gìn giữ những giá trị truyền thống tốt đẹp của di tích. Đồng thời, tăng cường công tác quản lý, trùng tu, tôn tạo và khai thác di tích đúng cách, góp phần gìn giữ và tôn vinh giá trị văn hóa truyền thống của địa phương, đất nước.  
Minh Trang

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh