Bạn đang xem: Trang chủ » Non nước Cao Bằng

Chàng trai ở phố Háng Vài

Thứ sáu 07/10/2016 07:00

Tôi về thăm nhà, đúng vào ngày rằm. Người dân đi chợ phiên Co Xàu đang đồn ầm ào cái tin nhà văn Cao Duy Sơn, con trai ông Thái, bà Cúc ở phố Háng Vài Thị trấn huyện Trùng Khánh, vừa đoạt giải thưởng văn chương từ Hội Nhà văn.

Tôi vừa đi vừa râm ran sướng. Niềm vui này đang được nhân đôi, nhân ba, nhân n. lần. Niềm vui nở ra chính cái nơi mà nhà văn Cao Duy Sơn cất tiếng khóc chào đời, trong một ngôi nhà xây bằng đá hộc trên phố Háng Vài, dưới chân núi Phja Phủ. Nhà văn của chúng ta đã lớn lên ở phố huyện nghèo nàn nhất nhì ở đất này. 

Hồi ấy, phố chợ Co Xàu xám mốc, nhỏ bé, đìu hiu. Gọi là phố huyện nhưng với những ngôi nhà một gian, hai gian vách đất, lợp rơm rạ, xen kẽ có một vài nhà lợp ngói âm dương. Phố xá mấp mô như ruộng vừa cày xong. Những người dân sống quanh năm suốt đời với áo vá, cháo loãng, lầm lũi đi kiếm ăn trong gió sớm mưa chiều. Một năm có ba trăm sáu mươi lăm ngày, thì có đến ba trăm ngày những người dân nơi đây chỉ dấp khăn lau người, chứ không dám tắm. Nói thế để các bạn biết đây là một vùng tiểu hoang mạc khô cằn. Nếu không nhầm, Co Xàu là phố thị duy nhất ở nước ta không có sông suối chảy qua. Nhưng lại là nơi hội tụ những núi sách non nghiên, thế đất có rồng chầu hổ phục. Thế nên mới có những địa danh Phja Sách (núi sách), Phja Phủ (núi võ)... Xem ra cũng có phần địa linh nhân kiệt.

Phố Co Xàu, ngày ấy thuộc xã Lăng Hiếu. Xã Lăng Hiếu chạy từ Co Xàu lên Phja Khoang, qua Hiếu Lễ đến Tà Than, Kéo Chưởng, Lũng Muôn… Một đơn vị hành chính chạy dọc theo tỉnh lộ Tây Bắc tiến. Ở đây gồm toàn người Tày và người Nùng. Họ nói đặc một giọng mà dzá rí, co máy liền co máy lỳ nghe say như rượu nếp. Xã Lăng Hiếu cũng là một xã cực nghèo về đất đai canh tác. Nhưng lại là một xã có đến hai vị anh hùng. Anh hùng liệt sỹ Hoàng Đình Hợp và Đại tá Anh hùng Hoàng Văn Thượng thời chống Mỹ. Còn các vị có bằng kỹ sư, bác sỹ, cử nhân hầu như xóm nào cũng có. Trí thức nảy nở nhọc nhằn như hoa rọi khuyết, thứ hoa đồng tiền đơn, cánh mỏng, có màu tím nhạt, bé bằng đồng xu, mọc kham khổ trên đá núi tai mèo. 

Nhà văn Cao Duy Sơn không thích nói về mình. Đây là một nét cá tính nổi trội nhất ở ông. Khi nghe tin tập truyện ngắn “Ngôi nhà xưa bên suối” lọt qua vòng chung khảo, giải thưởng chính thức của Hội Nhà văn, với số phiếu bầu gần như tán thành tuyệt đối. Nhà văn lim dim ngồi nghe như người Phủ Trùng đan tay chơi nắng. Chưa bao giờ tôi thấy Cao Duy Sơn tỏ ra quan trọng với những giải cao mà mình từng chiếm lĩnh. Đây là lần thứ mấy mà nhà văn đứng trên bục cao. Nhưng lần này, tôi thực sự chứng kiến một cảnh tượng xúc động. Nhà văn thành kính dâng cuốn sách của mình lên ban thờ. Tôi gọi đây là lễ báo hiếu. Một cái lễ giản dị, không ồn ào. Hồn người âm với ánh mắt người dương cách nhau nửa sải tay. Một bên là lọ hoa. Một bên là “Ngôi nhà xưa bên suối”. Trên cao, trong màn khói, tôi thấy ông Thái, bà Cúc tủm tỉm cười. Một nụ cười rất đỗi đôn hậu bao dung. Từ thẳm sâu tôi nghe được một nốt trầm thốt ra từ màn khói. Tiếng trầm vừa đủ ròa vào trái tim người con trai yêu quý của mình. Tiếng trầm như màn sương mỏng lan ra, phủ kín xuống người nhà văn. Cao Duy Sơn cúi đầu nghiêng mình, trước linh hồn mẹ cha. Nhà văn như một bông hoa đang ngát hương.

Trên đường trở về Hà Nội, nhà văn nhẩn nha kể rất nhiều chuyện. Đoạn đường nào ông cũng đầy ắp những kỷ niệm một thời niên thiếu. Tôi đặc biệt xúc động khi ông nói về cái ngày ông bị bệnh tả. Năm ấy, Sơn vừa lên hai. Đột nhiên cả hai anh em Sơn và Thủy bị một căn bệnh chẳng lấy gì trầm trọng, thế mà hồi đó quá khan hiếm thuốc thang. Rất may, Thủy bị nhẹ rồi cũng qua khỏi. Nhưng Sơn thì quá nặng. Bà mẹ đành phải địu Sơn mềm oặt trên lưng, đi bộ từ nhà ra đến Thị xã.

Tôi hình dung con đường ngày đó lổn nhổn đá răm to như củ đậu, với những ổ gà, ổ voi. Thỉnh thoảng mới có một cỗ xe thổ mộ lộc cộc đi ngược chiều về phố. Từ nhà ra đến chợ Thông Huề có mười cây số đường rừng. Đã thấy xa. Từ Thông Huề đến thị xã gấp năm sáu lần như thế. Cả đi và về gấp mười lần như vậy. Đường núi thung sâu heo hút, muôn trùng đèo cao dốc đứng. Lưng mẹ không dám mỏi. Chân mẹ không dám đau. Vai mẹ không dám nhức. Người mẹ dồn hết sức mình, gồng trên lưng đứa con. Mặt đường thì dài ra. Bàn chân phồng rộp. Hơi thở của Sơn trĩu dần về phía mặt trời lặn. Chân mẹ giục đi như bay. Mẹ nghe gió lùa qua hai bên tai. Hai bên tai nóng bừng như lửa. Sao ngày đó không có xe nhỉ? Sao ngày đó không có thuốc thang? Sao ngày đó chưa có bác sỹ. Ngày đó tôi chưa lên mười. Ngày đó chị tôi giặt áo phin nõn trắng bằng nước gio. Gội đầu bằng lá khau lồm. Viết chữ bằng que tre vót nhọn. Bìa sách bằng giấy loại, phết dán nhựa quả hồng xanh. Ngày đó trong nhà ai thắp đèn dầu, ai nhóp nhép kẹo lạc kẹo vừng bị coi là xa xỉ. Ngày đó nhà ai có chiếc xe đạp cà tàng được gọi là siêu giàu. Bất giác nước mắt tôi nhòe ra và Sơn cũng không nói gì được nữa. 

Xe đi đến đầu cầu Cốc Gằng, Sơn nói rất thầm vào tai tôi. Rồi lấy tay chỉ lên ngọn đồi trước mặt. Trên đấy có ngôi mộ bà ngoại em. Nhưng đã được bốc về một nơi quy tụ ở nghĩa trang của dòng họ rồi. Ông ngoại em họ Bế. Bế Văn Cán, người Tày thuộc xã Nam Tuấn, Hòa An. Bà em là Lê Thị Tảm cũng người Tày, Hòa An. Nhưng rồi, đột nhiên họ mất sớm. Mẹ em đã phải cõng dì Hoa về tận Trùng Khánh để tìm ông cậu ruột. Hai thân hình côi cút, nghiêng nghiêng lao đi trong cơn mưa sương… Ôi! Biết bao nỗi đau, đã xô dạt và làm xây xước hằn lên cuộc đời con người. Tôi thấy giọng Sơn ngạt đi và nhìn ra thật xa. Xa nữa là quê cha, đất Kiến Xương, Thái Bình. Người thân thích ruột thịt, nay không còn ai. Người đi như cát bay. Cát bay. Bay. B… a... y… Cõi người ù òa thổi.                     

Y Phương

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh