Nguyện hiến sức mình giải phóng quê hương

Thứ bảy 03/10/2015 06:00

Gần một thế kỷ gắn bó với Thị xã xưa - Thành phố trẻ Cao Bằng hôm nay - nơi đất thiêng đã nuôi dưỡng ông trưởng thành, trong ông luôn tha thiết một tình yêu và mong được hiến sức mình cho quê hương. Từ thuở thơ ấu đến khi trưởng thành đi theo Đảng, cách mạng, là người lính chiến đấu trên chiến tuyến ác liệt giải phóng Cao Bằng, rồi làm trí thức…, ông nguyện hiến tâm huyết, trí tuệ xây dựng Cao Bằng. Với ông, được tham gia kháng chiến đánh quân Pháp, giải phóng Cao Bằng (1947 - 1950) mãi trở thành niềm vinh dự, tự hào. Đó là ông Nguyễn Xuân Toàn, 90 tuổi, ở phố Vườn Cam, thành phố Cao Bằng.

Ông Nguyễn Xuân Toàn, phố Vườn Cam, thành phố Cao Bằng là chiến sỹ quân báo tham gia kháng chiến chống Pháp (1947 - 1950) giải phóng Cao Bằng.
Mở đầu câu chuyện với chúng tôi, ông Nguyễn Xuân Toàn bộc bạch:“Ba mặt tam giang trôi cuồn cuộn/Bốn bề tứ trụ đứng chon von” - Đây là câu thơ mà từ thuở nhỏ, tôi đã được nghe các cụ già nói về thị xã Cao Bằng xưa là nơi đắc địa, hợp nhất 3 dòng sông thơ mộng, bốn bề có thế núi non trùng điệp. Có lẽ vậy mà xưa nay Cao Bằng nơi địa đầu Tổ quốc trấn giữ vùng biên ải rộng lớn. Các dân tộc anh em có truyền thống yêu quê hương, đất nước nồng nàn, đoàn kết đứng lên đánh kẻ thù chung. Tôi cũng như nhiều thế hệ thanh thiếu niên lúc đó, được tiếp thu truyền thống quý báu thế hệ cha ông để mang trong mình một dòng máu yêu nước, thương nòi. Khi lớn lên, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, tôi được gia đình cho ăn học, tham gia chỉ đạo viên thiếu nhi Thị xã cùng với khối đoàn thể, rồi làm giáo viên dạy học xóa mù chữ cho lớp bình dân học vụ năm 1946. Cuối năm 1946, khi cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, tôi tình nguyện gia nhập Quân đội vào tháng 2/1947, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. 

Năm 1947 - 1950, bước vào quân ngũ, ông Toàn ở Thị đội Cao Bằng. Sau đó, ông được đào tạo và giao nhiệm vụ phụ trách quân báo - tình báo (Trung đội 5, Đại đội Độc lập 99, Trung đoàn 174), nhiệm vụ quân báo rất đặc biệt, nguy hiểm, tác chiến độc lập nhưng phải toàn diện, bí mật, an toàn. Quân Pháp mở đợt tấn công trên đường số 4 (Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng từ chiến dịch Việt Bắc Thu Đông 1947 đến Chiến dịch Biên giới 1950), tại địa bàn Cao Bằng, ông và đơn vị nhận nhiệm vụ trinh sát, nắm đồn bốt, hướng hành quân, trang thiết bị tác chiến, hậu cần của địch… để tham mưu, lập sa bàn và xây dựng phương án tác chiến cho mặt trận của ta. 

Trên các điểm xung yếu, như: Ngườm Kim, Nà Tẻn, Lũng Mười, Khau Luông, Cốc Xả, Nà Sưa, Nà Pá, Khuổi Ngọa… (Thạch An -  thị xã Cao Bằng), ông và đồng đội khi thì nằm phục kích trong rừng rậm, trên núi cao theo dõi từng chiếc xe ô tô, xe tăng, binh lính quân Pháp hành quân lên Cao Bằng; khi thì trà trộn vào trong dân đi bán gạo, ngô, rượu…, cho địch mua quân lương để lấy thông tin của địch, quan sát các lô cốt và số lượng binh lính. Nhiệm vụ dù khó khăn, gian nguy đến đâu, ông và anh em đơn vị đều hoàn thành nhiệm vụ. Vì thế, mặt trận ta xây dựng kế hoạch tác chiến chi tiết, phù hợp trước khi mở các trận đánh với quân địch.

Năm 1950, Bộ Tổng tham mưu có chỉ thị cho Ban Tham mưu Trung đoàn 174 tăng cường bám sát, điều tra nắm tình hình địch trên đường số 4, trọng tâm căn cứ Cao Bằng, Đông Khê, Thất Khê (Lạng Sơn). Ông và đồng đội ngày đêm bám sát tình hình hành quân, vận chuyển vũ khí, đạn dược, quân lương của địch trên đường số 4; thâm nhập nắm tình hình bố phòng của quân địch về quân số vũ khí, sơ đồ bố phòng đồn, trại…, tại thị trấn Đông Khê, thị xã Cao Bằng, Thất Khê, Lạng Sơn; thâm nhập vào các gia đình có chồng, con bị bắt ép đi lính cho Pháp (tiểu khu Đông Khê) để làm công tác dân vận, vận động con em họ cung cấp tình hình, phương án tác chiến của quân Pháp cho ta. Qua triển khai các nhiệm vụ quân báo chặt chẽ, đơn vị ông nắm bắt được nhiều thông tin, tài liệu mật cung cấp cho Bộ Tổng tham mưu để xây dựng phương án tác chiến đánh bẻ gẫy các hướng tiến quân của địch. Vì vậy, quân ta mở trận đánh đồn Đông Khê lần thứ 1 và thứ 2 (tháng 5 - 9/1950) đều thắng lợi, phòng tuyến quân Pháp trên đường số 4 bị phá tan. 

Cùng đơn vị làm nhiệm vụ tình báo, đơn vị ông cung cấp thông tin, báo cáo tình hình địch trên đường 4 và vùng lân cận giáp thị xã Cao Bằng cho Đội biệt động quân Thị xã Cao Bằng, Công an mở đánh nhiều trận tiêu hao sinh lực địch tại thị xã Cao Bằng. Đây là cứ điểm quan trọng có Sở Chỉ huy quân Pháp. Tại đây, địch bố trí binh lực khá mạnh để chi viện, tiếp tế cho các đơn vị đóng quân trong tỉnh và Bắc Kạn. Đội biệt động quân đã mở 24 trận đánh tiêu hao sinh lực địch, gây cho chúng hoang mang. Kiềm chế hoạt động cơ quan đầu não Sở Chỉ huy quân Pháp. Địch rơi vào thế phòng ngự, bị động, lực lượng phân tán, tiếp tế ngày càng khó khăn; tạo thời cơ cho phía ta mở các đợt tiến công đánh địch, bẻ gẫy các hướng chi viện từ Lạng Sơn - Cao Bằng. Quân địch bị chia cắt từng cứ điểm rời rạc, không phối hợp được với nhau để tác chiến, cuối cùng bỏ chạy.

Cuối tháng 9, đầu tháng 10/1950, ông nhận nhiệm vụ làm thư ký cho đồng chí Hà Thế Vũ, Ban Chỉ huy chiếm thành. Nhiệm vụ Ban Chỉ huy chiếm thành quan sát quanh Thị xã, báo về địch đang chuẩn bị hướng rút lui, phân công các đại đội bám sát địch trên đường rút lui. Đêm ngày 2, rạng ngày 3/10/1950, các tổ đội phối hợp chặt chẽ theo dõi hướng rút lui quân Pháp. Ông đi sâu vào Thị xã nắm tình hình thấy quân Pháp rút lui hết, nên đã dẫn các đồng chí Ban Chiếm thành vào Thị xã quan sát, giao nhiệm vụ cho các đại đội Công an giữ trật tự an ninh, huy động dân công vào sân bày Nà Cạn, Khuổi Tán, Khuổi Goòng thu chiến lợi phẩm đạn dược, vũ khí, quân trang, quân dụng. Ngày 3/10/1950, binh đoàn Sác - tông rút khỏi Cao Bằng theo đường số 4. Ông và các đại đội tiếp tục áp sát, truy kích, thu chiến lợi phẩm và áp giải tù binh. Ngày 3/10/1950, Cao Bằng được giải phóng là ngày lịch sử quan trọng của nhân dân các dân tộc Cao Bằng. Đó cũng là ngày ông thỏa tâm nguyện được nguyện hiến sức mình giải phóng quê hương yêu dấu sạch bóng quân thù.

Năm 1960 - 1986, ông làm Trưởng phòng Tổng hợp, Ty Văn hóa tỉnh (nay là Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch). Ngoài hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, ông còn say mê nghiên cứu văn hóa, lịch sử Cao Bằng. Ông có hơn 300 bài báo về văn hóa, lịch sử Cao Bằng đăng trên báo, tạp chí của Trung ương và địa phương. Ấn bản các đầu sách “Vương triều nhà Mạc ở Cao Bằng một thời hưng thịnh” - Xuất bản năm 2012, “Pác Bó cội nguồn Cách mạng” xuất bản năm 2006; đã viết cuốn tài liệu (dự thảo) “Thị xã Cao Bằng xưa và nay” và “Từ chiến thắng Việt Bắc Thu Đông năm 1947 đến chiến thắng Chiến dịch Biên giới năm 1950”. 

 Gia đình ông được Bảng vàng danh dự, có hai thế hệ cha - con tham gia kháng chiến chống Pháp, Mỹ (1947 - 1975). Ông vinh dự được Nhà nước tặng Huân chương Chống Pháp hạng ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất.

Đi qua gần trọn thế kỷ, tình yêu quê hương trong ông vẫn chảy trong máu thịt với bao thăng trầm của lịch sử. Ông tâm sự: Cao Bằng hôm nay được xây lên từ đổ nát của chiến tranh. Khẳng định sức mạnh, ý chí, tinh thần đoàn kết của Đảng, các dân tộc anh em chung tay xây dựng quê hương. Nhưng so với các tỉnh khác trong thực hiện sự nghiệp đổi mới đất nước, Cao Bằng còn tiếp tục phấn đấu hơn nữa như lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người về thăm ngày 21/2/1961: “Bác mong tỉnh Cao Bằng sớm trở thành một trong những tỉnh gương mẫu trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc như trước đây Cao Bằng là một trong những tỉnh đi đầu trong công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc”.         

Trường Hà

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh