Chuyện về những người làm giàu từ mô hình hợp tác xã

Thứ hai 08/02/2021 05:00

Những ngày này, hương sắc mùa xuân đã lan tỏa tới từng ngõ xóm, bản làng. Nhà nhà rộn ràng không khí đón xuân mới an vui, đong đầy sức sống. Xuân về mang theo ước mơ, khát vọng một năm mới đủ đầy, sung túc và nghe câu chuyện làm giàu của những “đầu tàu” hợp tác xã (HTX) để thấy sự quyết tâm vươn lên của họ.

Mô hình nuôi cá lồng của ông Bế Thành Đông, xóm Nà Phường, xã Độc Lập (Quảng Hòa).

GIEO NIỀM HY VỌNG TRÊN DÒNG SÔNG QUÊ

Trên mặt sông Vi Vọng trong xanh màu ngọc bích, những lồng bè cá như một nét chấm phá cho bức tranh thủy mặc đầy sống động. Đưa đôi tay kéo lưới, ông Bế Thành Đông, xóm Nà Phường, xã Độc Lập (Quảng Hòa), Giám đốc HTX cá lồng Pác Đa khéo léo dùng vợt chụp lấy con cá trắm cỏ to vừa tầm trọng lượng theo đơn đặt hàng của khách, ông kể về hành trình tạo dựng nghề nuôi cá lồng trên dòng sông quê hương.

Vốn là cán bộ công tác trong ngành thủy lợi, ông Đông có cơ hội đi tham quan nhiều nơi, tận mắt chứng kiến những tấm gương làm giàu từ mô hình nuôi cá lồng. Nhận thấy địa phương có dòng sông dài, nước trong xanh nhưng người dân chưa khai thác hết tiềm năng, ông bắt đầu tìm hiểu cách nuôi cá lồng, ấp ủ ý tưởng khởi nghiệp từ năm 1991. Thời gian đầu, ông tận dụng lũy tre già sau nhà, chặt xuống, chẻ lạt buộc làm lồng cá, đóng khung gỗ hai bên sườn làm thành phao.

Tuy nhiên lồng cá bằng tre thời gian sử dụng không được lâu, tỷ lệ cá bị thất thoát cao. Có năm nước lũ lên cao đứt dây trôi mất cả lồng cá. Ngoài ra, việc chưa chú trọng phòng bệnh cho cá cũng khiến cá nhiễm bệnh hàng loạt, thiệt hại lên tới vài chục triệu đồng. Dù phải trải qua nhiều khó khăn nhưng chưa bao giờ ông nghĩ sẽ từ bỏ.

Thay vào đó, ông đi nhiều nơi trong Nam, ngoài Bắc để tìm hiểu, học hỏi kinh nghiệm. Đến năm 2013, ông đầu tư đóng 3 lồng nuôi cá bằng sắt, thép với diện tích trung bình mỗi lồng gần 20 m2, sâu gần 2 m. Chi phí đầu tư cho một lồng cá trắm cỏ khoảng 20 triệu đồng nhưng cho thấy hiệu quả rõ rệt, cá sinh trưởng và phát triển tốt, tỷ lệ thu hồi vốn nhanh.

Đã thành thói quen, sáng nào ông cũng tỉ mỉ quan sát, ghi chép tình hình phát triển của đàn cá. Theo ông, kinh nghiệm nuôi cá lồng là phải quan tâm, theo dõi sát sao, đảm bảo từng khâu nuôi dưỡng, từng giai đoạn phát triển đều thực hiện theo đúng quy trình kỹ thuật. Với giá bán khoảng 120.000 đồng/kg như hiện nay, mỗi năm, 3 lồng cá của ông Đông cho khoảng 1,5 tấn cá, trừ chi phí đạt thu nhập khoảng 100 triệu đồng.

“Tiếng lành đồn xa”, thấy hiệu quả kinh tế cao hơn so với trồng lúa, không ít gia đình đến nhà ông học tập mô hình và làm theo. Được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của ông, nhiều hộ tận dụng hơn 3 ha mặt nước để nuôi cá lồng, tạo nguồn thu nhập ổn định, góp phần giảm nghèo, cải thiện đời sống.

Để việc chăn nuôi cá lồng trên địa bàn xã Độc Lập hoạt động chuyên nghiệp, tạo thành chuỗi liên kết mang lại hiệu quả kinh tế cao, cuối năm 2019, ông Đông tập hợp bà con thành lập HTX cá lồng Pác Đa với 17 thành viên, tuân thủ chặt chẽ quy trình chăn nuôi cá sạch nhằm thống nhất về chất lượng và xây dựng uy tín trên thị trường. Thức ăn cho cá chủ yếu là cỏ voi, lá chuối, ngô, tuyệt đối không dùng cám công nghiệp, tăng trọng. Sau 8 - 9 tháng nuôi, cá đạt trọng lượng từ 3 - 5 kg/con.

Đến nay, HTX có 40 lồng cá, sản lượng trung bình 15 tấn/năm. Nhờ áp dụng nghiêm ngặt kỹ thuật nuôi cá sạch nên chất lượng thịt cá săn chắc, hương vị thơm ngon, được nhiều khách hàng ưa thích. Sản phẩm cá trắm cỏ của HTX chủ yếu bán cho các nhà hàng, khách sạn khu vực huyện, Thành phố.

Hợp tác xã Kim Thạch tạo việc làm cho nhiều lao động địa phương với mức thu nhập 6 triệu đồng/người/tháng.

Gần 60 tuổi, lão nông Bế Thành Đông vẫn say mê với nghề, một ngày không nghe tiếng quẫy đuôi, rào rào đớp mồi của đàn cá là thấy nhớ. Hơn nữa, ông đặc biệt quan tâm bảo vệ môi trường nước, giữ gìn cảnh quan tự nhiên ven sông, không gây tác động xấu để phát triển nghề nuôi cá bền vững.

Mặc dù hoạt động của HTX bước đầu đi vào ổn định, song ông Đông vẫn trăn trở tìm kiếm đầu ra, quảng bá thương hiệu sản phẩm. Hiện nay, việc tiêu thụ sản phẩm còn phụ thuộc nhiều vào thương lái, chưa có đơn vị đứng ra thu mua. Ông mong muốn được hỗ trợ chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm cá lồng Pác Đa và kết nối cung - cầu để bà con yên tâm mở rộng sản xuất.

ĐÁNH THỨC TIỀM NĂNG ĐỊA PHƯƠNG

Dù đã có tuổi nhưng bà Nông Thị Hòa, xóm Nà Vai, xã Kim Đồng (Thạch An) - Giám đốc HTX Kim Thạch vẫn đang nung nấu chiến lược dài hơi với tham vọng mở rộng quy mô xưởng sản xuất tăm, đũa tre; tạo việc làm và mang lại thu nhập ổn định cho nhiều lao động địa phương.

Sau vài lần hẹn, chúng tôi mới gặp được bà Hòa tại xưởng sản xuất của HTX. Hỏi ra mới biết, dù là giám đốc có cả chục công nhân nhưng mọi việc đều do bà quán xuyến, từ đi các xã để tìm kiếm nguyên liệu đến xuất bán sản phẩm, vận chuyển hàng đi tiêu thụ đều do bà đảm trách nên công việc tương đối bận rộn.  

Trước khi nghỉ hưu theo chế độ, bà là Trạm trưởng Trạm Y tế xã Kim Đồng. Năm 2018, sau khi nhận sổ hưu được một tháng, bà bắt đầu “khởi nghiệp” ở tuổi “xế chiều”. Ở độ tuổi chưa phải là già nhưng cũng không còn trẻ như bà thì mọi người dự tính kế hoạch nghỉ ngơi, đi du lịch đây đó, còn bà “đổ” tất cả vốn liếng thành lập HTX sản xuất tăm, đũa tre.

Các con nghe bà chia sẻ ý tưởng đều nhất trí ủng hộ, ra sức động viên và giúp đỡ mẹ xây dựng kế hoạch. Với quyết tâm và niềm tin mãnh liệt, bà quyết định bỏ ra toàn bộ số tiền tích lũy, mạnh dạn vay thêm vốn từ ngân hàng, Quỹ “Hỗ trợ nông dân” đầu tư hơn 4 tỷ đồng mở nhà xưởng, mua sắm máy móc, trang thiết bị.

Theo bà, sở dĩ HTX chọn đầu tư sản xuất tăm, đũa tre bởi nguyên liệu tre, trúc, vầu ở địa phương rất sẵn, có thể khai thác mấy mươi năm không hết, chưa kể vừa khai thác vừa trồng thêm cây nguyên liệu. Về đầu ra, có một công ty tăm tre lớn đã ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm với HTX.

“Trước khi xuất hiện dịch Covid-19, mỗi tháng HTX xuất khoảng 15 tấn tăm hương sang thị trường Đài Loan, Ấn Độ. Hiện nay, do tác động của dịch bệnh khiến thị trường đầu ra nước ngoài bị “đóng băng”, HTX chuyển sang tập trung sản xuất tăm, đũa tre phục vụ thị trường trong nước. Công suất trung bình 1,5 tấn thành phẩm/ngày”, bà Hòa cho biết.

HTX Kim Thạch tạo việc làm thường xuyên cho 10 - 12 công nhân, chủ yếu là người dân địa phương và các huyện lân cận. Theo thiết kế, HTX có hơn 30 lao động mới có thể đảm bảo khâu hoạt động của xưởng. Người lao động được học việc, tập huấn kỹ thuật sản xuất và đạt mức thu nhập trung bình 6 triệu đồng/người/tháng. Quy trình cho ra một sản phẩm hoàn chỉnh phải đầy đủ các khâu: cắt theo kích thước, bổ chẻ thành nan, đánh mắt đánh mấu, ra sợi, sấy, đánh bóng, cắt và đóng gói theo tiêu chuẩn. Các mặt hàng tăm, đũa tre có chất lượng tốt nên được thị trường đón nhận với những tín hiệu lạc quan.

Bà Hòa và đội ngũ công nhân HTX Kim Thạch đều thấy vui mừng, phấn khởi vì ngày càng có nhiều khách hàng gần xa tìm đến liên hệ đặt hàng. Với mục tiêu tận dụng hiệu quả thế mạnh sẵn có của quê hương, tạo thêm việc làm giúp người dân ổn định cuộc sống, nhất là bộ phận thanh niên không phải “bỏ xứ” đi làm ăn xa, bà Hòa đang nỗ lực nghiên cứu những sản phẩm mới, tìm cách quảng bá thương hiệu và kết nối thị trường. Trong tương lai gần, HTX tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư, nâng cấp công nghệ máy móc, nâng cao năng suất, chất lượng, đáp ứng yêu cầu của khách hàng.

Ông Đông, bà Hòa là hai trong số hàng trăm vị “thuyền trưởng” đang nỗ lực lèo lái con tàu HTX “thuận buồm, xuôi gió” chinh phục thành công và phát triển đúng định hướng trên địa bàn tỉnh. Từ câu chuyện làm giàu của những giám đốc HTX năng động, dám nghĩ, dám làm ấy đã khơi dậy niềm tin về mô hình HTX kiểu mới dần hiện hữu làm “thay da, đổi thịt” nhiều xóm, làng quê hương.

Linh An

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh