Bạn đang xem: Trang chủ » Ký - Phóng sự

Vui cùng Phjắc Cát

Thứ sáu 24/11/2017 07:00

Trời đã sang thu mà mưa vẫn đổ liên hồi. Vào khuya vẫn rào rào như trút nước, tưởng như sập trời, tụt đất, sẽ làm lỡ hẹn với xóm Phjắc Cát, xã Dân Chủ (Hòa An). Nhưng cũng thật may mắn, sáng hôm sau nắng lại bừng lên rực rỡ, trời cao xanh lồng lộng, mây bồng bềnh theo những đỉnh núi xa mờ... Vậy là tôi lên xe cùng với cánh phóng viên trẻ nghiêng ngả gần 50 cây số vượt Mỏ Sắt, qua Khau Công, lên đèo Mã Quỷnh để đến với Phjắc Cát.

Xóm Phjắc Cát, xã Dân Chủ. Ảnh: Phạm Hà

Mã Quỷnh là một trong những con đèo hiểm trở nhất của Cao Bằng. Đến đỉnh đèo là vào địa phận của làng Phjắc Cát. Trước núi non, mây ngàn quấn quyện, hữu tình, tôi cứ "ngỡ mình cưỡi gió ngắm trần gian". Câu thơ của Thanh Tịnh viết vào những năm 60 của thế kỷ trước đọc lên bỗng như thấy mới lạ! Đặc biệt khi ngoảnh lại phía sau, nhìn khúc cua có hình trái tim, tự nhiên trong tôi thổn thức về huyền thoại gắn với tên đèo.
Chuyện kể rằng từ thuở xa xưa có một dũng tướng trên đường đuổi giặc, vì con ngựa chiến quá khỏe, phi quá nhanh, lỡ đà đã lao mình xuống một thung sâu. May mà dũng tướng này có sức khỏe phi phàm đã bay người bám vào một cây nghiến bên đường, rồi sau đó dũng tướng này gắn bó cuộc đời mình với rừng cây, núi đá vùng này mà lập nên vùng Cao Thượng, trong đó có xóm người Mông Phjắc Cát. Từ đó câu chuyện cứ râm ran, lan tỏa vào điệp trùng của núi non, mây trắng và mãi là niềm kiêu hãnh, tự hào của người dân vùng Cao Thượng! Phải chăng đó chính là sức sống, là thân phận đời người và cũng là bản sắc văn hóa, là truyền thống đấu tranh cách mạng và cả những câu chuyện tình bất diệt ở nơi đỉnh trời bốn mùa lộng gió này.
Cứ ngỡ rằng, Phjắc Cát là một xóm nhỏ nằm dưới một thung sâu, nhưng không, cả xóm 32 hộ nằm cheo leo bên sườn núi, tạo cho ta một cảm giác hoang sơ, cách biệt với thế giới bên ngoài. Vì bốn bề là rừng cây, đá núi nên từ lâu ở xóm nghèo này cây ngô khẳng định nơi đây là chốn trần gian, an cư lạc nghiệp đời đời và vì thế mèn mén, canh rau cải là "điệp khúc" muôn thuở của người Mông nơi đây. Khi chưa có Chương trình 134, 135 thì cả xóm đói dài, nhưng với bản tính chịu thương, chịu khó nên từ già tới trẻ đói không kêu, nghèo không than, vẫn chiếc quẩy tấu trên lưng, ngày nối ngày từ nhà lên nương, rồi lại từ nương về nhà mà vẫn tươi tắn nụ cười, khẽ khàng dịu ngọt với bất kể khách lạ, khách quen! Song đáng yêu hơn cả là người Mông vùng Mã Quỷnh nói chung và Phjắc Cát nói riêng đã tạo cho mình những dấu ấn đặc biệt để tiếng thơm lan truyền khắp vùng, khắp tỉnh và là niềm tự hào của đời đời con cháu! Đó là thành tựu trồng cây gây rừng theo lời kêu gọi của Bác Hồ.

 Từ những năm 80 của thế kỷ trước, tôi đã được đọc bài báo "Rừng thông Cao Thượng của người Mông Cao Thượng" vì lúc bấy giờ Cao Thượng là một điểm sáng của Cao Bằng với những rừng thông ngút ngát, bốn mùa vi vút gió reo, hút hồn du khách mỗi dịp ra vào Thông Nông. Đó là thành tích xuất sắc trong chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc tháng 2/1979, mà chói sáng hơn cả là tấm gương mưu trí, dũng cảm của Vương Quyết Thành, với khẩu súng hỏa mai trong tay "một tấc không đi, một ly không rời". Nhờ những thành tích xuất sắc của mình mà sau này ông được đi dự hội nghị người Mông tiêu biểu ở Trung ương và được bầu là đại biểu HĐND tỉnh lúc đó. Một nét độc đáo nữa của Phjắc Cát đó là Chi đoàn Thanh niên duy trì chế độ chào cờ và hát Quốc ca bằng cả lời Việt và lời Mông vào sáng thứ Hai đầu tháng, tạo ra một dấu ấn "độc nhất vô nhị", lan tỏa rộng rãi trong cộng đồng thanh, thiếu niên các dân tộc tỉnh Cao Bằng. Điều này diễn ra cách đây đã gần 30 năm về trước nên lớp trẻ hiện nay người biết, người không. Khi biết tôi muốn tìm hiểu về chuyện Chi đoàn Thanh niên hát Quốc ca, ông Hà Minh Trần, Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội (một trong những người con thành đạt của vùng núi Phja Viềng) hể hả: 
- Ồ, đó là niềm tự hào của cả Cao Bằng đấy! Chắc anh còn nhớ, từ năm 1992 - 1996 tất cả các cấp, ngành, các địa phương trong cả nước hễ có cuộc kỷ niệm lớn nào, có nghi thức chào cờ là các thành viên trong buổi lễ đó phải trực tiếp hát bài Quốc ca để thể hiện tình cảm sâu nặng của mình đối với Tổ quốc, với Đảng và với Bác Hồ kính yêu. Lúc đó, tôi làm Bí thư Tỉnh đoàn, tôi đã trực tiếp đến động viên Chi đoàn Thanh niên Phjắc Cát duy trì thật tốt nét sinh hoạt văn hóa đầy ý nghĩa này. Có lẽ nhờ đó mà người Mông Phjắc Cát từ xưa đã thương yêu, quý trọng nhau thì nay càng gắn bó keo sơn và thêm tin yêu Đảng, yêu kính Bác Hồ. Cũng nhờ đó mà các luận điệu phản tuyên truyền của Vàng chứ, Dương Văn Mình không vào được đất này. Nhà nào, nhà ấy vẫn treo ảnh Bác Hồ, vẫn để bàn thờ tổ tiên, một nét đẹp văn hóa truyền thống của người Mông.
Từ chỗ phát hiện ra dấu ấn văn hóa đầy ấn tượng của Chi đoàn Thanh niên ở đây, Tỉnh đoàn Thanh niên đã chỉ đạo Phjắc Cát thành xóm điểm, lấy đoàn thanh niên làm lực lượng nòng cốt trong việc vay vốn phát triển sản xuất để xóa đói, giảm nghèo. Vận động bà con ngói hóa nhà ở, xóa bỏ những mái nhà lợp tranh, lợp máng tre, máng trúc và thay thế nhà cột chôn đất bằng nhà khung gỗ, kê đá tảng. Đi liền đó, Tỉnh đoàn còn đứng ra thế chấp cho mỗi hộ vay 1 triệu đồng để chăn nuôi bò, góp phần thực hiện có hiệu quả Chương trình 134, 135 để cả xóm nhanh chóng thoát nghèo, vươn lên khá giả. Hiện nay, mỗi hộ đều có từ 2 - 4 con trâu, bò. Riêng các hộ: Lò Văn Vừ, Vương Thị Mà, Vương Văn Hầư nuôi trên 10 con, không những bảo đảm sức kéo phục vụ cày bừa, khai phá đồi hoang thành ruộng bậc thang mà khi cần có thể đem bán với giá bình quân mỗi con từ 18 - 20 triệu đồng để lo trang trải cho gia đình và lo việc học hành cho con cái, nhờ đó mà Phjắc Cát đã có nhiều cháu được bước chân vào các trường đại học, cao đẳng ở Hà Nội, Thái Nguyên. Nhất là từ khi có đường ô tô đến trung tâm xóm, có điện lưới Quốc gia, nhà nào, nhà nấy đều sắm được xe máy, tivi... Nhiều nhà còn mua cả máy tẽ ngô, máy cắt cỏ, bớt đi nỗi vất vả, nhọc nhằn từ ngàn đời nay và cũng nhờ đó mà đàn gà, đàn vịt mỗi nhà nhiều hơn, con trâu, con bò cũng to béo, mượt mà hơn, thật sự là một nét đổi đời của người Mông Phjắc Cát. 
Ở đâu cũng vậy, đường đến, điện đến là ánh sáng văn minh của Đảng đến. Cái đói, cái nghèo cũng dần dần lùi vào dĩ vãng, nhường chỗ cho sự no ấm, đủ đầy. Cũng từ đây làm cho người Mông Phjắc Cát đổi mới cách nghĩ, cách làm để cho cuộc sống ngày càng khá giả hơn, mà minh chứng sinh động nhất là gia đình 2 anh em Vương Văn Lợi, Vương Văn Vinh, với 2 ngôi nhà mái tôn xanh, nền lát gạch hoa, trần gỗ thông sáng bóng tọa lạc ngay đầu ngõ. Bất ngờ hơn là khi nhìn vào trong bếp thấy ngót nghét 100 bao thóc được xếp chồng lên nhau tươm tất, cứ như là để triển lãm vậy. Dù tôi đã đến nhiều miền quê nhưng đây là lần đầu tiên gặp một khung cảnh nói lên sự đủ đầy, no ấm này. Khi nghe tôi trầm trồ, chúc mừng những thành quả lao động của gia đình, mẹ của Vinh và Lợi không giấu nổi niềm vui: 
- Số thóc này là từ vụ mùa năm ngoái đấy! Vừa ăn, vừa bán mà vẫn còn từng này, tôi vui lắm! Tất cả là nhờ sức cải tạo đồi hoang thành ruộng cả đấy, vất vả lắm mà.
Chia sẻ niềm vui này với trưởng xóm Vương Văn Phong thì được anh cho biết: Phjắc Cát đã có hướng thoát nghèo từ 2, 3 năm nay bằng cách động viên, tạo điều kiện cho bà con tích cực khai khẩn đồi hoang thành ruộng bậc thang, kết hợp phát triển đàn trâu, đàn bò và nuôi lợn đen... Đồng thời đưa tiến bộ khoa học kĩ thuật và đưa giống mới vào đồng ruộng. Với đà này, nhất định nay mai Phjắc Cát sẽ thành công trong xây dựng nông thôn mới.
Như để kiểm chứng lời nói của mình, Vương Văn Phong, Vương Văn Mù đã dùng xe máy đưa chúng tôi ngược dốc theo đường sống trâu quanh co, gập ghềnh gần 2 km lên đỉnh đồi sau làng để chiêm ngưỡng 3 khu ruộng, mỗi khu rộng ngót nghét 1.000 m2, đang độ làm đòng, hẹn mùa bội thu trên 3 mỏm đồi có độ cao ngót 1.500 m so với mực nước biển, có cảm tưởng như lên cao chừng mươi mét nữa là ngang đỉnh Phja Viềng - 1 trong 2 dãy núi cao nhất ở Cao Bằng, quả là đáng kính phục. Từ đây trong tôi bỗng vọng về những vần thơ lắng đọng của nhà thơ Hoàng Trung Thông: ...“Bàn tay cần cù/Mặc dù nắng cháy/Khoai trồng thắm rẫy/Lúa cấy xanh rừng/Hết khoai ta lại gieo vừng/Không cho đất nghỉ, không ngừng tay ta".
Như cảm nhận được dòng suy tưởng của tôi trước sức cải tạo thiên nhiên đến mức phi thường của bà con nơi đây, Vương Văn Phong liền hào hứng: Chú biết không? Đây là 3 mỏm đồi to nhất, cao nhất vùng, trước đây bạt ngàn cỏ may và cây giàng giàng, chủ yếu để thả trâu, bò. Vì cao quá nên tụi trẻ bọn cháu lúc bấy giờ cứ đùa với nhau rằng: Chiều nay chúng mình lại đuổi trâu trên đỉnh trời mà chăn nhé! Lên đấy tha hồ mà ngắm nhìn trời đất và tha hồ chơi sảng, đánh khăng, vui lắm! 
Dẫu những đám ruộng cao tít, xanh rì trên đỉnh trời này chưa thể so sánh với những cánh đồng bậc thang mênh mang, tít tắp như ở Hoàng Su Phì (Hà Giang), Mù Cang Chải (Yên Bái) nhưng cũng đủ để người Mông Phjắc Cát tự hào rằng: Đó là công trình kiến tạo vĩ đại của thiên nhiên và con người miền núi. Những nấc thang trời, những cung bậc tình yêu cũng từ ruộng rẫy mà ra! Đang miên man suy tưởng, tôi chợt nghe tiếng máy xúc đang rầm rầm ở mỏm đồi bên kia, ngoạm những gầu đất đá, cỏ cây để tạo thêm những đám ruộng mới cho mùa sau và để Phjắc Cát thêm những mùa vàng trĩu hạt.
Tạm biệt Phjắc Cát, tôi cứ bâng khuâng với mây trắng, nắng vàng Mã Quỷnh và xốn xang về những việc làm đầy ý nghĩa, tạo những ấn tượng đẹp về sự lao động cần cù, thông minh của người Mông nơi đây. Ngọn gió từ phương Bắc tràn về đã pha chút hanh hao, tôi như chìm đắm, mộng mơ trước một mùa thu đang chầm chậm trở về và bỗng nghe văng vẳng đâu đây tiếng khèn Mông da diết như lay động từng gốc cây, ngọn cỏ, thao thiết gọi bạn tình. Tiếng khèn như gợi nhớ, gợi thương và như nhắn nhủ mỗi người phải thật sự yêu đất, yêu người miền cao để tiếng khèn mãi mãi nồng nàn, mãi mãi vang xa, lắng đọng hồn người.
Chu Sĩ Liên

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh