Bạn đang xem: Trang chủ » Ký - Phóng sự

Vết thương thời hậu chiến

Thứ ba 23/07/2019 05:00

Mỗi khi có dịp gặp gỡ các cựu chiến binh hay những người có trách nhiệm thực hiện chính sách với người có công, tôi lại gợi chuyện tìm hiểu những trường hợp do ảnh hưởng của cuộc chiến tranh đã làm tổn thương sức khỏe và cuộc sống của họ mà khâu thực hiện chính sách vẫn còn những bất cập không dễ gì khắc phục trong ngày một ngày hai.

Tác giả bài viết trao đổi với Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin tỉnh Nông Đức Thắng. Ảnh: Xuân Lợi

Từ tổ chức Hội Cựu chiến binh, tôi được biết về trường hợp anh Tạ Quang Hài, trú tại xóm 5A Nam Phong, xã Hưng Đạo (Thành phố). Anh nhập ngũ, vào chiến trường miền Nam từ năm 1968, bị chất độc da cam hủy hoại cơ thể nặng nề mà chưa được hưởng bất cứ chế độ gì. Cảm thông với hoàn cảnh của anh, Hội Cựu chiến binh đã tặng một chiếc xe lăn để anh Hài có thể tự di chuyển trong nhà.
Tôi tìm gặp được anh Hài trong căn nhà đơn sơ nằm trên sườn đồi. Ngồi trên chiếc xe lăn ở thềm cửa, thấy khách lạ, anh đưa cặp mắt dõi theo từng cử chỉ của tôi như dò xét rồi mở miệng phát ra những câu ú ớ. Khi biết tôi đến tìm hiểu với dụng ý giúp đỡ thì anh bỗng òa khóc như một đứa trẻ. Tiếng khóc nghẹn ngào. Anh nắm chặt lấy tay tôi, nước mắt lã chã lăn trên gò má. Dường như với anh, chỉ còn tiếng khóc là nói lên được tâm trạng của mình. Chị Vương Thị Hồng, vợ anh bảo:
- Anh ấy xúc động quá đấy! Anh đã bị tai biến mạch máu não nhẹ, phải chữa chạy mãi bây giờ mới tự di chuyển bằng xe lăn được nhưng vẫn rất khó nói. Chỉ có em mới hiểu được thôi.
Trong lúc chờ anh bình tĩnh lại, tôi tranh thủ quan sát trong nhà của anh xem còn vật gì kỷ niệm của thời chiến tranh. Căn nhà thật đơn sơ. Chị Hồng cho biết: Nhà này được làm từ cuối năm 1985, vì thời đó không mua được than để nung nên phải xây bằng gạch mộc. Trên tường, nhiều chỗ đã bị lở vì mưa dột. Chứng nhận duy nhất còn lại của cả một thời chiến đấu ở chiến trường là tấm Huân chương Kháng chiến hạng Nhì được cấp năm 1989. Còn tất cả mọi thứ giấy tờ và kỷ vật thiêng liêng, trong đó có cuốn nhật ký, ba tờ giấy chứng nhận “Dũng sĩ diệt Mỹ” và các phần thưởng khác của Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam đều đã bị cháy trụi cùng với căn nhà cột tre gai trong chiến tranh 1979. Hồi ấy, cả làng Nam Phong này bị đốt cháy hoàn toàn. Đó cũng là lý do anh không có căn cứ để đề nghị Nhà nước giải quyết chế độ chính sách mặc dù chất độc da cam đang hằng ngày, hằng giờ tàn phá cơ thể.
Bình tĩnh trở lại, anh Hài mới cố nhớ để kể lại những năm tháng không thể quên trong cuộc đời qua lời nói lại của chị Hồng. Sinh năm 1947, ở xã Thọ Vinh, huyện Kim Động (Hưng Yên), năm 1963 anh theo gia đình lên khai hoang và định cư ở xóm Nam Phong. Tháng 4/1968, anh nhập ngũ, đi huấn luyện theo binh chủng đặc công ở Sơn Tây. Tháng 10/1968, hành quân vào chiến trường ở Thừa Thiên Huế, 8 năm ở rừng Trường Sơn gắn liền với những trận đánh “xuất quỷ nhập thần” của người chiến sĩ đặc công, anh đã lập được nhiều chiến công, ba lần được tặng danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”.

Cho đến bây giờ, anh cũng không thể nhớ nổi mình đã tham gia bao nhiêu trận đánh. Miền Nam hoàn toàn giải phóng, tháng 12/1975, anh được xuất ngũ trở về địa phương với cơ thể khỏe mạnh, lành lặn, nhiệt tình tham gia ban chủ nhiệm hợp tác xã, sôi nổi trong phong trào thanh niên. Tháng 2/1976, anh lấy vợ là chị Vương Thị Hồng. Mặc dù cuộc sống nghèo khó nhưng cặp vợ chồng trẻ đã có những tháng năm thật hạnh phúc. Cuối năm 1976, con gái đầu lòng Tạ Thị Hương ra đời trong niềm hạnh phúc của cả gia đình. Tiếp sau đó, vợ chồng anh Hài sinh lần lượt 3 người con gái: Tạ Thị Thắm (năm 1980); Tạ Thị Vân (năm 1982); Tạ Thị Yến (năm 1985). Hiện các con đều đã lập gia đình, ngôi nhà chỉ có hai vợ chồng anh Hài.
Những năm tháng sức khỏe tốt, anh là người khéo tay làm cả thợ mộc và thợ nề, say sưa với công việc mà không hề nghĩ đến hiểm họa của chất độc da cam sẽ hành hạ bản thân và gia đình mình. Dấu hiệu đầu tiên báo thời kỳ suy sụp về sức khỏe là những trận sốt rét tái phát đầu năm 1991; đến năm 1993, bệnh trở nặng với những lần ngất xỉu, cơn co giật, sức khỏe anh Hài bị suy giảm nhanh.

Từ đó, anh thường xuyên phải nằm viện, trong khi đó mọi chi phí điều trị phải tự túc hoàn toàn vì anh không có bảo hiểm y tế. Năm 2005, chân trái của anh bị hoại tử nên phải bỏ, từ đó, hầu như suốt ngày anh chỉ nằm ở giường. Nay anh lại mắc thêm căn bệnh tiểu đường và cao huyết áp nên cuộc sống chỉ còn như ngọn đèn dầu leo lắt. Chị Hồng ngày ngày phải chăm sóc chồng, không làm được gì để có thêm thu nhập, trong khi đó thuốc thang để điều trị cho anh vẫn phải mua thường xuyên. Thương cảnh bố luôn ốm đau, các con gái thay phiên nhau đến đỡ đần cho mẹ việc đồng áng và chăm lo sức khỏe cho bố.
Dường như bệnh tật đã làm cho anh không đủ minh mẫn để hồi tưởng về quá khứ của mình. Phải rất khó khăn anh mới diễn đạt được một câu. Chỉ chị Hồng mới hiểu những điều anh nói và dịch lại cho tôi. Điều nào chị dịch đúng ý, anh gật đầu. Điều nào chị diễn đạt không đầy đủ, anh xua tay. Cứ thế, câu chuyện của anh kéo dài trong tâm trạng mệt mỏi. Thỉnh thoảng, anh lại òa khóc nức nở làm tôi không khỏi xúc động.
Trước lúc chia tay, tôi nắm chặt bàn tay lạnh ngắt của anh và nói lời an ủi:
- Anh hãy cố gắng giữ gìn sức khỏe. Tôi tin chắc rằng một ngày không xa, anh sẽ được hưởng chính sách. Đảng, Nhà nước sẽ không bao giờ bỏ rơi người đã có công lao trong cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc!
Anh lại òa khóc nức nở, trong nghẹn ngào, anh nhờ vợ nói hộ lòng mình:
- Anh ơi! Còn điều mà từ nãy tôi chưa nói được, đó là tình cảm bà con, hàng xóm. Trong suốt hàng chục năm nay, tôi cố sống được là nhờ sự quan tâm, chăm sóc của bà con. Ở xóm Nam Phong này, ai cũng tốt và quý mến tôi nhưng cuộc sống của chính họ cũng còn khó khăn.
Rời nhà anh Hài, tôi theo đường tắt qua cầu treo vượt sông Bằng đến trụ sở UBND xã Hưng Đạo. Cùng tiếp tôi có anh Bế Thành, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã; anh Nguyễn La Chiến, phụ trách công tác thương binh xã hội; anh Nông Văn Minh, Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh. Tôi nêu trường hợp anh Tạ Quang Hài, anh Thành sốt sắng nói luôn:
Trường hợp anh Hài thì thực sự chúng tôi rất bức xúc nhưng không biết giúp anh ấy bằng cách nào vì thực tế trên địa bàn xã Hưng Đạo trước kia đã có 16 người được hưởng chính sách nhưng đến năm 2005 thì có tới 12 người bị cắt chế độ mà không có lý do cụ thể. Trong đó có trường hợp anh Triệu Văn Lạnh, ở xóm Đà Quận, hiện chất độc da cam đang tàn phá cơ thể suy kiệt mà không biết “kêu” vào đâu. Đó là lý do mà ở cơ sở không biết cách nào để giúp anh Hài.
Anh Bế Thành dẫn tôi đến nhà anh Triệu Văn Lạnh. So với anh Hài thì hoàn cảnh nhà anh Lạnh có khá hơn. Sức khỏe anh Lạnh cũng còn tốt hơn. Biết tôi đang tìm hiểu về hậu quả của chất độc da cam, anh vén hai ống quần rồi vén áo lên cho tôi xem: Anh xem này, tôi đã đi điều trị khắp nơi dùng đủ loại thuốc mà không khỏi. Mùa rét còn mặc quần áo được, mùa nắng ấm thì cơ thể lở loét, không mặc được quần áo, cứ cởi trần ngồi ở trong màn vì sợ ruồi bâu.
Nhìn hai bắp chân đã gần teo hết thịt, khô cứng và bong vẩy, cơ thể bị sưng rộp đầy mụn đỏ. Lần đầu tiên tôi tận mắt nhìn thấy một nạn nhân bị hủy hoại khủng khiếp của chất độc da cam. Chị Nguyễn Thị Uyên, vợ anh Lạnh đưa tôi một quyển sổ:
- Anh Lạnh được hưởng trợ cấp từ năm 2001 nhưng đến năm 2005 thì bị cắt chế độ mà không biết vì lý do gì.
Dường như anh đã quen với căn bệnh quái ác, quen với sự dày vò của vết thương không mảnh đạn, rót chén nước chè mời tôi, anh Lạnh kể: Anh sinh năm 1953. Tháng 6/1972 vào chiến trường miền Nam là lính lái xe kéo pháo. Anh từng đi qua những con đường giặc Mỹ rải chất độc hủy diệt cỏ cây, nhưng ở thời ấy, không ai hiểu hết tác hại khủng khiếp của chất độc hóa học. Năm 1976, được xuất ngũ về địa phương với cơ thể lành lặn. Đến năm 1996 thì bị ngứa toàn thân, năm 1998 bệnh trở nặng và thường xuyên phải đi viện điều trị, không làm được gì thêm.
Suốt đêm ấy tôi không sao chợp mắt, những hình ảnh đầy đau thương của anh Hài và anh Lạnh cứ hiện về làm tôi trằn trọc thâu đêm. Cuộc chiến tranh đã lùi xa hơn bốn chục năm mà vết thương vẫn hằng ngày, hằng giờ đày đọa cơ thể những cựu chiến binh bị nhiễm chất độc, không những thế còn âm thầm hủy hoại cuộc sống của các thế hệ con, cháu họ. Chỉ riêng xã Hưng Đạo thôi đã có hàng chục cựu chiến binh cần sự quan tâm trợ giúp của xã hội thì cả tỉnh sẽ còn bao nhiêu người đang ngậm ngùi chịu đựng nỗi đau nghiệt ngã do chiến tranh để lại.
Lời của Trưởng xóm 5A Nam Phong Lê Thị Liễu như vẫn còn vang bên tai: - Chú ơi! cháu lớn lên khi đất nước đã không còn chiến tranh nhưng chứng kiến những nạn nhân chiến tranh đang sống ở quê hương thì cháu thấy cuộc chiến tranh do đế quốc Mỹ gây ra trên chiến trường miền Nam để lại hậu quả tàn khốc quá. Liệu chú Hài có được hưởng chính sách không hở chú?
Tôi đem những điều mắt thấy, tai nghe và những suy nghĩ của mình trao đổi với Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hà Minh Trần (nay đã nghỉ hưu). Sau khi nghe cặn kẽ những điều tôi kể, anh Trần bảo: Những trường hợp như anh vừa nêu cần phải xúc tiến làm thủ tục ngay để họ được hưởng chế độ sớm. Anh lấy sổ tay ra ghi rõ họ, tên, địa chỉ từng trường hợp rồi nói tiếp: Về chủ trương, chính sách thì các văn bản đã có khá đầy đủ, có điều là việc thực hiện chính sách đối với nạn nhân bị nhiễm chất độc da cam rất phức tạp.

Trước kia, chỉ cần có xác nhận của y tế thì được trợ cấp. Đến năm 2005, Nhà nước ra văn bản quy định cụ thể, rõ ràng hơn, do đó có những trường hợp không có đủ căn cứ chứng minh bị nhiễm chất độc da cam đã bị cắt trợ cấp. Có những trường hợp bị tàn tật nặng đáng được hưởng thì cơ sở lúng túng, không dám làm, cũng có trường hợp, cựu chiến binh vào chiến trường bị nhiễm chất độc nhưng lại không dám khai để hưởng chính sách vì sợ ảnh hưởng đến con cái lớn lên khó dựng vợ, gả chồng.
Thời gian tiếp theo là hành trình của những người làm thủ tục cho cựu chiến binh bị nhiễm chất độc da cam được hưởng chính sách. Được chứng kiến quá trình làm việc của họ, tôi mới thấy được những khó khăn, trắc trở của công việc này. Văn bản của Nhà nước quy định rất rõ ràng những điều kiện để cựu chiến binh bị nhiễm chất độc da cam ở chiến trường được hưởng chính sách, nhưng giữa nội dung văn bản và thực tế vẫn còn khoảng cách. Hai trường hợp nêu trên khi rời chiến trường trở về quê hương với cơ thể lành lặn, không ai mảy may nghĩ rằng mình phải lưu giữ mọi thứ giấy tờ và vật kỷ niệm để ngày hôm nay dùng đến nó. Trong trường hợp cụ thể này, người đại diện cho Nhà nước phải làm việc bằng cái tâm. Nếu yêu cầu gia đình họ phải lặn lội đi tìm đủ giấy tờ xác nhận thì thật là điều không tưởng vì sức khỏe và kinh tế không cho phép, thêm nữa là đơn vị cũ và những người có trách nhiệm hầu như không còn.

Khi tôi viết bài này thì anh Hài, anh Lạnh đã được hưởng chính sách Người tham gia hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học. Do sức khỏe kém nên anh Hài đã qua đời, nhưng trước lúc nhắm mắt xuôi tay cũng hài lòng vì công lao đóng góp của mình cho cuộc kháng chiến đã được Đảng, Nhà nước ghi nhận. Giám đốc Hà Minh Trần nay cũng đã nghỉ hưu song cũng phần nào bớt trăn trở vì đã góp phần làm vơi đi nỗi đau vết thương không mảnh đạn do chất độc hóa học mà giặc Mỹ rải xuống chiến trường miền Nam.
Phan Nguyệt

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh