Bạn đang xem: Trang chủ » Ký - Phóng sự

Về với nước non Cao Bằng

Thứ sáu 23/12/2016 06:00

Ngược Quốc lộ 3, qua thành phố Thái Nguyên và Bắc Kạn, chúng tôi đến với Cao Bằng, nơi cội nguồn Cách mạng. Chuyến đi lần này, mong muốn được chứng kiến sự đổi thay của vùng quê yên tĩnh là châu Nguyên Bình xưa (nay là huyện Nguyên Bình) - nơi có khu rừng Trần Hưng Đạo, mà ở đó có 34 chiến sỹ đầu tiên của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, đứng tuyên thệ dưới cờ cách đây 72 năm. Ngoài mục đích đó, chúng tôi còn muốn tìm lại người anh, người đồng chí, đồng đội hơn 30 năm trước đã cùng công tác và chiến đấu trên tuyến biên giới Hoàng Liên Sơn.

Nhà bia trung tâm tại Khu di tích Quốc gia đặc biệt rừng Trần Hưng Đạo, xã Tam Kim (Nguyên Bình), nơi thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân.
Trận đánh giành thắng lợi hai đồn Phai Khắt, Nà Ngần (thuộc xã Tam Kim và xã Hoa Thám, Nguyên Bình) là hai chiến công đầu tiên của Quân đội ta hiện ra trước mắt chúng tôi. Không gian vắng lặng, rừng xanh bạt ngàn, tiếng vọng từ buổi hình thành một đội quân cách mạng thổi bùng ký ức trong chúng tôi về mảnh đất lịch sử giàu truyền thống cách mạng này. Hai năm trước, nhân dịp kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, Khu di tích được Nhà nước và Quân đội trùng tu, tôn tạo khang trang, sạch đẹp. Nhà tưởng niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp - người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người “Anh Cả” của Quân đội ta được xây dựng với kiến trúc hiện đại, uy nghi, bề thế trên lưng chừng đồi. 103 cây kim giao được trồng dọc đường vào khu di tích cũng đã vươn cao, xanh tốt. Sau khi thắp nén hương thơm tưởng niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp, chúng tôi vào thăm Khu rừng Trần Hưng Đạo, nơi các chiến sỹ cách mạng tuyên thệ và nơi lưu dấu kỷ niệm của các chiến sỹ Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Nhà bia 4 mặt ghi dấu ấn buổi đầu thành lập đội quân cách mạng. Đi sâu vào khoảng 20m là vị trí 2 lán năm xưa nơi các anh ăn nghỉ. Hai cây sấu già còn đó và hằng năm đến mùa vẫn cho rất nhiều trái thơm. Mái nhà đơn sơ, nhỏ hẹp nhưng chính từ nơi đây, đội quân cách mạng của chúng ta đã từng bước trưởng thành lớn mạnh, góp phần cùng toàn dân đứng dậy làm cuộc cách mạng “long trời, lở đất”, giành chính quyền về tay nhân dân và tham gia “trường kỳ kháng chiến” giải phóng dân tộc; đồng thời làm tròn nghĩa vụ quốc tế với hai nước bạn Lào, Campuchia.

Bồi hồi, xúc động rời khu di tích, chúng tôi đến thăm người anh, người bạn cũ đang sinh sống tại thị trấn Nguyên Bình (Nguyên Bình). Sau 33 năm gặp lại, tay bắt, mặt mừng niềm vui không kể xiết. Anh là Thượng úy Chu Văn Hòa, nguyên lái xe Trường Sơn trong những năm tháng chống Mỹ, cứu nước. Năm 16 tuổi, anh đã xung phong đi bộ đội để tham gia đoàn quân vào chiến trường miền Nam chiến đấu. Câu chuyện về cuộc đời mình, anh kể tôi nghe từ năm 1981 đến giờ, tôi vẫn nhớ như in. Sinh ra trên miền quê hương cách mạng, truyền thống đấu tranh anh dũng của các thế hệ đi trước như đã ngấm vào trong máu thịt anh từ nhỏ. Mối thù giặc Mỹ gieo rắc đau thương trên đất nước ta thôi thúc lòng anh viết đơn tình nguyện và khai tăng tuổi để được vào bộ đội. Năm 1967, anh tạm biệt quê hương, lên đường đi chiến đấu. Là người ít nói, tính tình cẩn thận, anh được trên tuyển chọn và cho học lớp lái xe cấp tốc. Sau 45 ngày luyện rèn anh được cấp bằng lái xe hạng Trung xa, rồi cùng chiếc xe GAZ chở hàng hóa quân sự dọc tuyến đường Trường Sơn. Mùa hè năm 1970, anh cùng đoàn quân vào thẳng Tây Nguyên chiến trường B3 ác liệt. Quá trình phục vụ ở chiến trường, trong một lần cứu xe khỏi mưa bom giặc Mỹ, anh bị thương. Sau đó, đồng đội đã đưa anh về tuyến sau để điều trị.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, anh được trở ra ngoài Bắc vừa an dưỡng, vừa điều trị vết thương tại Đoàn 235. Tình yêu và hạnh phúc đã đến với anh ở nơi quê hương Vĩnh Phú thân thương này. Sau khi tốt nghiệp khóa học một năm tại Trường Sỹ quan Lục quân, với lòng nhiệt tình, ham học hỏi, anh tiếp tục được học thêm nghề chiếu phim. Chiếc xe điện ảnh lại cùng anh rong ruổi trên khắp các địa bàn, nơi nào có bộ đội đóng quân là xe đến phục vụ.

Ngày 15/5/1978, Sư đoàn 345 được thành lập, anh cũng là một trong những người đầu tiên có mặt trong đội hình của Sư đoàn. Chiến tranh biên giới nổ ra, anh được tăng cường phục vụ cho trạm phẫu tiền phương của Sư đoàn tại khu vực thị xã Cam Đường. Trước thế giặc mạnh, trạm phẫu phải lùi về tuyến sau để làm nhiệm vụ cấp cứu, điều trị thương binh. Trong tình thế cấp bách, một mình anh đã không quản ngại vác chiếc máy phát điện nặng khoảng 60 kg trên quãng đường gần 3 km về đến ga Pom Hán an toàn. Tinh thần quả cảm và sự quên mình cứu tài sản đơn vị làm chúng tôi hết sức khâm phục, người đồng chí của mình. Ngôi nhà tranh, vách nứa nhỏ bé nằm dưới sườn đồi là ngôi nhà chung anh em chúng tôi cận kề bên nhau trong những ngày gian khó nhất của đời lính. Bên chén rượu say nồng, chúng tôi cùng nhau ôn lại những kỷ niệm xưa, nhớ lại những người đồng đội đã ngã xuống để cho biên cương mãi bình yên. Những lời nói, những việc làm gương mẫu của anh đã thôi thúc tôi rèn luyện, phấn đấu trưởng thành và trở thành cán bộ cao cấp trong quân đội.

Chia tay “Nước non Cao Bằng”, tạm biệt anh trong niềm xúc động, lưu luyến, chúng tôi xuôi về Hà Nội. Trên đường trở về, trong tôi xốn xang bao ý nghĩ cùng nhiều điều còn trăn trở đối với người anh của chúng tôi. Anh bây giờ sống một mình, vết thương cũ thường xuyên tái phát. Ngày trước vết thương này chưa đủ tỷ lệ để anh làm thẻ thương binh, giờ đây muốn giám định lại, nhưng anh không còn thứ giấy tờ nào. Quan trọng nhất là anh vẫn lạc quan, yêu đời, vẫn mang đậm chất lính Trường Sơn. Chúng tôi hy vọng một ngày nào đó, điều kỳ diệu sẽ đến với anh.
Quang Chung

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh