Bạn đang xem: Trang chủ » Ký - Phóng sự

Vang khúc khải hoàn ca

Chủ nhật 19/04/2020 16:00

45 năm đã trôi qua, nhưng thời khắc lịch sử được đi trong một đội hình của 5 cánh quân tiến vào giải phóng Sài Gòn trưa 30/4/1975 còn đọng mãi trong kí ức không thể phai mờ. Chiến dịch Tổng tấn công mùa xuân 1975 toàn thắng sau 53 ngày đêm, cuộc trường chinh đầy hy sinh, gian khổ của dân tộc ta đi đến thắng lợi, vang khúc khải hoàn ca trên thành phố mang tên Bác Hồ kính yêu.

Xe tăng quân giải phóng tiến vào Dinh Độc lập ngày 30/4/1975. Ảnh:TTXVN

VÀO TRẬN

Tháng 12/1974, Sư đoàn 10 đang đứng chân xung quanh thị xã Kon Tum, một tỉnh cực bắc Tây Nguyên làm nhiệm vụ đánh địch lấn chiếm bảo vệ vùng giải phóng.

Một buổi chiều, Đại đội trinh sát Sư đoàn nhận nhiệm vụ thành lập một bộ phận gồm các cán bộ, chiến sĩ dày dạn kinh nghiệm điều nghiên tham gia đoàn công tác. Trước khi ra vị trí tập kết, mọi cá nhân chỉ mang theo quân tư trang, vũ khí trang bị cá nhân. Còn lại các loại sổ tay, thư từ liên quan danh tính cá nhân, phiên hiệu đơn vị đều gói ghém để lại hậu cứ. Rời hậu cứ trong màn đêm với bí mật tuyệt đối khi mệnh lệnh truyền xuống: Tất cả các máy thông tin 2w, 15w đều không được sử dụng liên lạc. Không ai biết đi đâu và làm gì nhưng hiểu rằng đây là một cuộc hành quân đặc biệt.

Từ vị trí tập kết, bộ đội được bố trí lên các xe ô tô nhằm hướng Tây Nam qua sông Pô Kô thẳng tiến. Khi trời hửng sáng, các xe tản ra những cánh rừng để bộ đội mắc võng ngủ và nấu ăn. Sau gần một tuần cơ động, đơn vị đi đầu đã đến khu vực Bù Bông, vượt ngã ba Đắk Song nơi giao nhau giữa quốc lộ 13, 14. Đơn vị được lệnh quay trở lại Đắc Đam, tỉnh MôđunKini của Campuchia và dừng chân củng cố đội hình.

Từ Đắc Đam, các phân đội trinh sát bắt đầu thực hiện nhiệm vụ điều nghiên các cứ điểm của địch từ ngã ba Đắk Song, núi lửa Cư Mgar, Đức Lập đến cầu 14 nằm trên quốc lộ 14. Hơn một tháng tiến hành trinh sát, ta nắm được hệ thống phòng thủ, lực lượng quân Ngụy tại khu vực Đức Lập - Đắk Song, tiền đồn phía Tây Nam của thị xã Buôn Ma Thuột. Khi công tác chuẩn bị chiến trường ở khu vực này hoàn thành cũng là lúc Tết Nguyên đán năm 1975 cận kề, đơn vị chúng tôi tổ chức đón xuân, đón năm mới bên ngầm Đắc Đam trong không khí tấp nập xe pháo, bộ binh cơ động về tập kết.

Sau Tết Nguyên đán, lực lượng tiền trạm lại được lệnh cơ động ngược ra Bắc, nhận nhiệm vụ khẩn trương trinh sát, nắm hệ thống phòng thủ, bố trí lực lượng địch tại thị xã Buôn Ma Thuột của Sư đoàn 23 ngụy, Liên đoàn biệt động quân, khu kho Mai Hắc Đế, Sân bay Hòa Bình… Chỉ trong thời gian rất ngắn, trinh sát đã có trong tay sơ đồ thị xã Buôn Ma Thuột, xây dựng thành sa bàn để Bộ Chỉ huy chiến dịch giao nhiệm vụ cho các đơn vị.

Trong sự bí mật tuyệt đối, các đơn vị đã cơ động hình thành thế bao vây chia cắt. Đêm mùng 9 rạng sáng 10/3/1975, trận đánh mở màn chiến dịch làm rung chuyển rừng núi cao nguyên. Địch chủ quan trước đòn nghi binh của Quân giải phóng nên bị bất ngờ, khi trước đó hai ngày ta đã tấn công và làm chủ chi khu Đức Lập, cứ điểm cách thị xã Buôn Ma Thuột về phía tây 80 km.

GIẢI PHÓNG VÙNG CAO NGUYÊN

Sau hơn một ngày tiến công hiệp đồng binh chủng, ta hoàn toàn làm chủ Thị xã, đánh chiếm các mục tiêu quan trọng như Sở Chỉ huy Sư đoàn 23 ngụy, kho Mai Hắc Đế, bắt sống Tỉnh trưởng Đắk Lắk, làm chủ Sân bay Hòa Bình, căn cứ của Trung đoàn 45, Trung đoàn 53 và Liên đoàn biệt động quân. Bị đánh tan tác nhưng tàn quân địch vẫn co cụm về Sân bay Hòa Bình củng cố đội hình chờ tăng viện.

Ở khu vực núi Cư Mgar, một Tiểu đoàn địch vẫn cố thủ trên ngọn đồi và đến chiều ngày 16/3, ta đã tiến công và làm chủ hai mục tiêu cuối cùng này. Chiến dịch giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột thắng lợi là trận đánh nhờ nghệ thuật nghi binh và sử dụng lực lượng áp đảo. So sánh tương quan lực lượng, địch đã bị hút lên hướng Bắc Pleiku. Trên địa bàn Thị xã chỉ còn một trung đoàn bộ binh, một liên đoàn biệt động quân và các lực lượng địa phương quân Ngụy trấn giữ.

Tác giả (thứ hai từ trái sang) cùng gia đình thăm Dinh Độc Lập.

Về phía ta, với nghệ thuật chỉ huy cơ động và tập trung lực lượng đã áp đảo quân địch. Trên các hướng tấn công, ta có 2 sư đoàn bộ binh gồm Sư đoàn 10, Sư đoàn 316, Trung đoàn bộ binh 95b cơ động sang từ chiến trường Lào; Trung đoàn Đặc công 198, Trung đoàn tăng 273, Trung đoàn Pháo binh 40, 1 trung đoàn pháo phòng không của Binh đoàn Trường Sơn. Ngoài ra còn có Trung đoàn số 25 tham gia cắt đường trên quốc lộ 26, một lực lượng của Sư đoàn 320 cắt đường 14 ở khu vực Buôn Hồ, chưa kể các đơn vị bảo đảm và lực lượng của tỉnh Đắk Lắk.

Để cơ động một khối lượng lớn về phương tiện kỹ thuật, quân số, lực lượng vận tải các đơn vị đã được tăng cường thêm cả Sư đoàn vận tải 471 của Binh đoàn Trường Sơn để vận chuyển. Thật sự chiến dịch đã bảo đảm tuyệt đối bí mật khi tập trung sức mạnh binh hỏa lực trong một thời gian ngắn hình thành thế bao vây cô lập thị xã Buôn Ma Thuột. Giải phóng Buôn Ma Thuột, quân ta tiếp tục đánh bại lực lượng phản kích của địch trên hướng Đông ở khu vực Phước An, ý định tái chiếm của Nguyễn Văn Thiệu đã quá muộn và phá sản trong tuyệt vọng.

Từ ngày 17/3, Sư đoàn 10 được sự chi viện của pháo binh và xe tăng bắt đầu phát triển tiến công theo quốc lộ 26 về phía đông, nhắm mục tiêu là tỉnh Khánh Hòa. Để cứu vãn tình thế, quân Ngụy tung Lữ đoàn dù số 3 xuống trấn giữ đèo MaĐRắc, con đèo hiểm trở nằm trên quốc lộ 26 phía Đông thị trấn Khánh Dương. Quân ta sử dụng lực lượng tấn công đánh chiếm thị trấn Khánh Dương, phối hợp cùng xe tăng chi viện đột phá vào đội hình quân dù. Sư đoàn sử dụng Trung đoàn Bộ binh 24 cắt rừng vòng qua phía Nam tạo thành mũi vu hồi xuống chân đèo, khóa chặt đường chi viện và rút lui của quân Ngụy.

Bị tấn công dồn dập, Lữ đoàn dù số 3 hoảng loạn và vỡ trận, bỏ trận địa, súng pháo tan tác, số chạy vào rừng, số bị tiêu diệt, số bị bắt sống. Thừa thắng, quân ta đánh chiếm Trường Hạ sĩ quan Dục Mỹ, ngã ba Ninh Hòa, tràn qua thành phố Nha Trang, truy kích địch đến tận quân cảng Cam Ranh. Việc ta làm chủ tỉnh Khánh Hòa góp phần đập tan hy vọng chiếm Trung Bộ của ngụy quyền Sài Gòn, buộc địch phải co cụm về bảo vệ Quân khu 3 từ Phan Rang trở vào.

THẦN TỐC VÀ TOÀN THẮNG

Chỉ trong vòng 25 ngày kể từ khi ta nổ súng tấn công chi khu Đức Lập, cả cao nguyên Trung phần và các tỉnh duyên hải miền Trung được giải phóng. Quân ngụy vội vàng huy động lực lượng xây dựng phòng tuyến Phan Rang trên quốc lộ 1 nhằm cản hướng tiến công từ xa của ta. Sư đoàn 10 được lệnh hành quân mở đường từ Ba Ngòi tắt ra Ninh Sơn, vượt đèo Sông Pha theo quốc lộ 20 về tham gia đột phá phòng tuyến Xuân Lộc. Lúc này quân Ngụy ở tỉnh Tuyên Đức (Lâm Đồng ngày nay) đã tháo chạy. Cả vùng cao nguyên Lâm Viên từ Đà Lạt đến Bảo Lộc hoàn toàn giải phóng.

Trước khi rút chạy, địch phá sập hai cây cầu trên sông Đại Linh. Chỉ sau một ngày đêm, lực lượng công binh lắp đặt xong cầu phao, bảo đảm cho bộ đội vượt sông, tiếp tục tiến quân. Khi lực lượng xung kích của Sư đoàn 10 cơ động qua đèo Bảo Lộc, đến khu vực Định Quán thì quân ta phá tan tuyến phòng thủ Xuân Lộc. Sư đoàn được lệnh quay lại Di Linh, chuyển hướng sang Gia Nghĩa, phát triển tiến công theo quốc lộ 13 qua Phước Long - Bình Long về hướng Tây Bắc Sài Gòn.

Trên đường hành quân khí thế sục sôi, quân đi như trẩy hội làm rạo rực lòng người. Vùng giải phóng được mở rộng nhanh chóng đến bất ngờ. Từ cánh rừng cao su Dầu Tiếng, mệnh lệnh thần tốc của Chiến dịch Hồ Chí Minh phát ra, trong khi Sư đoàn 320 tấn công cứ điểm Đồng Dù do Sư đoàn 25 ngụy trấn giữ và làm chủ vào chiều 29/4/1975, Sư đoàn 10 đánh thẳng ra Củ Chi, theo quốc lộ 1 đánh chiếm quân trường Quang Trung, tiến đến Hóc Môn trước cửa ngõ Sài Gòn.

Ngày 30/4/1975, trời vừa rạng sáng, các trận địa pháo của ta đồng loạt nhả đạn vào các mục tiêu trong thành phố. Trung đoàn xung kích của Sư đoàn 10 có xe tăng chi viện tấn công vào ngã tư Bảy Hiền. Trong cơn tuyệt vọng, địch điều Lữ đoàn dù số 4 ra chốt chặn và cuộc tấn công của ta bị chậm lại. Trên từng căn nhà, góc phố, các hỏa điểm của quân địch bắn cháy một số xe tăng, xe bọc thép của mũi tấn công. Với ý chí quyết thắng, bộ đội ta tăng cường sức đột phá bằng cách điều pháo phòng không 37 mm cơ động đến, hạ thấp nòng diệt từng hỏa điểm trên các căn nhà cao tầng. Sức phản kháng của lính dù bị đè bẹp, cửa mở vào thành phố khai thông.

Mũi tiến công của Sư đoàn 10 đánh thọc thẳng vào Sân bay Tân Sơn Nhất, đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu ngụy, hợp quân với cánh quân từ hướng Bắc của Quân đoàn 1. Cũng từ thời khắc ấy, tin vui đến bất ngờ khi qua Đài Phát thanh Sài Gòn, Tổng thống Dương Văn Minh của chính quyền Việt Nam Cộng hòa tuyên bố đầu hàng Quân giải phóng. Cánh quân hướng Đông do quân đoàn 2 đảm nhiệm đánh chiếm Dinh Độc Lập, sào huyệt cuối cùng của địch, bắt sống toàn bộ nội các tay sai của Mỹ. Tiếng hò reo vang dậy trong niềm hân hoan khó tả trước thời khắc kết thúc chiến tranh.

Tác giả thăm căn cứ Tà Thiết, căn cứ của Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh.
Chúng tôi, những người lính áo xanh “đầu trần chân đất” đi từ quê hương Phai Khắt - Nà Ngần hòa vào đội hình tiến quân, qua hơn 50 ngày đêm băng qua lửa đạn cùng đồng đội cắm lá cờ quyết thắng trên thành phố mang tên Bác. Niềm hạnh phúc lớn lao, niềm tự hào của một dân tộc anh hùng đã chiến đấu, hy sinh suốt 30 năm để có mùa xuân toàn thắng còn đọng lại trong tim mỗi chúng ta.
Mạnh Hùng

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh