Bạn đang xem: Trang chủ » Ký - Phóng sự

Vang khúc ca khải hoàn

Thứ hai 29/04/2019 05:00

Trong không khí cả dân tộc hướng đến kỷ niệm 44 năm Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2019), những cựu chiến binh trên quê hương cách mạng lại bồi hồi nhớ về những năm tháng chiến đấu và tự hào vì đã cống hiến tuổi thanh xuân, một phần xương máu vì độc lập, tự do cho Tổ quốc. Mỗi câu chuyện, tấm gương chiến đấu của các thế hệ cha anh luôn là trang sử vàng để thế hệ trẻ học tập, noi theo.

KÝ ỨC HÀO HÙNG CỦA NGƯỜI LÍNH ĐẶC CÔNG
Những ngày tháng Tư lịch sử, chúng tôi đến thăm nhà bệnh binh Nguyễn Việt Cường, ở xóm Bản Tại, xã Vĩnh Quang (Thành phố) để nghe kể chuyện truyền thống.

Ông Nguyễn Việt Cường (bên trái) chia sẻ với đồng đội về những kỷ vật được trao tặng.

Ông Cường sinh năm 1951, tại xóm Nà Luông, xã Vĩnh Quang. Năm 1969, ông lên đường nhập ngũ và đóng quân tại Hà Tây (nay là Hà Nội). Từ tháng 3/1970, ông được lệnh vào miền Nam chiến đấu tại chiến trường miền Tây Nam Bộ, rồi được điều động sang chiến trường Campuchia. Năm 1972, ông về Tiểu đoàn H41, D212 thuộc Sư đoàn bộ binh 305, Bẩy Núi (An Giang). Ông Cường bồi hồi kể lại: Đầu năm 1975, chiến dịch được mở tại Kiên Giang, đến trung tuần tháng Tư, khi cả Trung đoàn đang chiến đấu trong vùng địch hậu thuộc huyện Ô Môn (Cần Thơ) thì được lệnh của trên về thời cơ lịch sử “Tổng tiến công giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước”.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhiệm vụ của Trung đoàn 20 là thọc sâu đánh chiếm sân bay Trà Nóc, Cần Thơ (căn cứ của Sư đoàn Không quân số 4 ngụy Sài Gòn). Là đơn vị lính đặc công chủ lực độc lập, chuyên phải đánh đêm, nhiệm vụ mỗi chiến sĩ phải đeo 15 kg thuốc nổ để phá vòng vây tiến vào sân bay.
Đêm 28/4, được lệnh phối hợp với đặc công thủy tiến về lộ Vòng Cung để triển khai đội hình chiến đấu, sau đó diễn tra trận đánh ác liệt. Đến đêm 29/4, được cấp trên thông báo: “Đêm nay là chặng hành quân cuối cùng, chúng ta sẽ tiếp cận và đánh chiếm Sân bay Trà Nóc, đây chính là điểm quyết chiến của cả Trung đoàn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử này”. Từ lời khích lệ như tiếp thêm sức mạnh, ông cùng đồng đội xông lên chiến đấu. Rạng sáng 30/4, địch bắn pháo cấp tập vào đội hình ta. Trung đoàn tập trung bắn chế áp vào sân bay, các loại súng bắn quyết liệt vào địch. Gần trưa, nhiều tiếng hô vang “Giải phóng rồi”, niềm vui đến quá bất ngờ, xúc động.
Sau giải phóng miền Nam, ông được điều động về miền Bắc. Đến tháng 2/1979, ông lại tham gia cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc. Với những thành tích trong chiến đấu và công tác, ông được trao Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng ba, Huy hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quân… Trở về đời thường, ông Cường luôn phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong phát triển kinh tế gia đình, được tín nhiệm bầu làm bí thư chi bộ xóm, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ xã 3 khóa và tích cực tham gia hoạt động xã hội tại địa phương.
GIỮ VỮNG PHẨM CHẤT "BỘ ĐỘI CỤ HỒ"
Ông Lương Hồng Thái, thị trấn Xuân Hòa (Hà Quảng) tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước khi mới hơn 20 tuổi và hy sinh một phần máu thịt của mình góp phần làm nên chiến thắng lịch sử 30/4/1975. Đến nay, gần nửa thế kỷ đã qua nhưng hình ảnh về thời gian chiến đấu lại hiện về trong tâm trí ông.

Ông Lương Hồng Thái (bên phải) cùng đồng đội ôn lại kỷ niệm thời quân ngũ.

Năm 1966, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ngày càng quyết liệt, ông Thái từ miền quê nghèo huyện Đại Từ (Thái Nguyên) xung phong lên đường nhập ngũ. Là người lính trẻ trong Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 2, Sư đoàn 250, ông được đào tạo về chiến thuật đặc công.  
Là chiến sĩ đặc công, khi vào chiến trường Tây Nguyên, ông và đồng đội tổ chức nhiều đợt trinh sát để xây dựng sa bàn địa hình sơ đồ tác chiến đồn địch cho đơn vị lên kế hoạch tiến công nhanh gọn, tiêu hao sinh lực địch. Từ sơ đồ sa bàn tác chiến của tổ đặc công, đơn vị ông mở trận Đắc Tô, Tân Cảnh (Kon Tum) và tiêu diệt gần hết Sư đoàn 42 của quân Ngụy, giải phóng thị xã Tân Cảnh. Năm 1967  -1968, ông và đơn vị làm nhiều nhiệm vụ quan trọng tham mưu cho đơn vị mở tiếp nhiều trận đánh trên chiến trường Tây Nguyên.
Cuối năm 1968, ông Thái bị thương và ra miền Bắc điều trị. Năm 1970 - 1972, ông nhận nhiệm vụ công tác tại Bộ Tham mưu, Bộ Tư lệnh Quân khu Việt Bắc. Sau đó học tập về Binh chủng Pháo binh nhận nhiệm vụ Khẩu đội trưởng, Đại đội 5, Tiểu đoàn 254, thuộc Quân khu Việt Bắc đóng quân tại huyện Yên Bình (Yên Bái).

Nhiệm vụ bảo vệ các tỉnh phía Bắc trong các đợt tấn công trọng điểm rải bom bắn phá miền Bắc của Mỹ bằng các máy bay tối tân, hiện đại nhất, ông và đơn vị luôn nêu cao tinh thần sẵn sàng chiến đấu và mưu trí bắn rơi nhiều máy bay địch, trong đó có máy bay hiện đại cường kích chiến đấu như F111, 1F4. Ông được tặng Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng ba.                
Sau ngày đất nước thống nhất, hòa bình lập lại, ông cùng vợ về huyện Hà Quảng lập nghiệp, trở thành tấm gương tiêu biểu sản xuất kinh doanh giỏi.  
CHIẾN SĨ PHÁO BINH THAM GIA HƠN 60 TRẬN ĐÁNH
Chiến tranh lùi xa nhưng chiến công trong những trận đánh vang dội của những chiến sĩ trinh sát pháo binh mãi mãi in đậm trong ký ức của cựu chiến binh Nguyễn Hữu Thuyên, xã Bình Long (Hòa An). Ông từng tham gia Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh, bảo vệ biên giới Tây Nam, thực hiện nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia.

Cựu chiến binh Nguyễn Hữu Thuyên (giữa) cùng đồng đội ôn lại kỷ niệm chiến trường.

Nhắc đến những ngày tháng ở chiến trường miền Nam, giọng người lính già đầy xúc động. Tháng 2/1961, theo tiếng gọi của Tổ quốc, ông lên đường nhập ngũ, biên chế vào đơn vị Lữ đoàn Pháo binh 374 (Binh chủng Pháo binh) tại đồi Thậm Thình, Việt Trì (Phú Thọ). Tháng 1/1964, sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở ông trở về địa phương.

Tháng 5/1965, ông tái ngũ và biên chế vào tiểu đoàn 1 làm nhiệm vụ cơ động ở Quân khu Việt Bắc giúp dân ổn định nhà cửa ở tỉnh Yên Bái và tham gia các công trình quốc phòng ở Thái Nguyên, Vĩnh Phúc. Đến tháng 1/1968, ông biên chế vào Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 246, sau đó ông chuyển sang Đại đội 14 thuộc Trung đoàn 246 hành quân vào miền Nam chiến đấu tại mặt trận Đường 9  - Khe Sanh (Quảng Trị).
Trong cuộc đời binh nghiệp của mình, có tổng số hơn 60 trận đánh mà ông đã góp sức vào những chiến công chung của đồng đội. Nhưng đậm sâu nhất, có lẽ là gần 40 ngày đêm không ngưng tiếng súng của tháng 3/1968 ở trận địa sân bay Tà Cơn trong chiến thắng Khe Sanh.
Sân bay Tà Cơn (thuộc xã Tân Hợp, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị hiện nay) là một trong những căn cứ điểm quân sự chiến lược của quân đội Mỹ trong những năm 1966 -1968 tại chiến trường Khe Sanh.    Trong chiến dịch đánh chiếm sân bay Tà Cơn, lúc đầu, đơn vị bố trí khẩu đội pháo 12,7 ly cách sân bay trên 1.000 m.

Qua thực tiễn những trận đánh trước đó, ông cho rằng, nếu đặt xa như vậy sẽ không hiệu quả và chỉ bắn được những máy bay ở trên cao nên ông đã mạnh dạn đề xuất với chỉ huy đưa pháo vào cách sân bay 100 m. Thấy nguy hiểm nên đơn vị không đồng ý với đề xuất của ông nhưng sau rất nhiều lần thuyết phục, với sự quyết tâm cao độ, đề xuất của ông được chỉ huy chấp thuận. Hiệu quả quá bất ngờ khi ngay ở trận đầu này, đơn vị của ông đã bắn rơi rất nhiều máy bay trực thăng hiệu HU1A của địch, một chiến công vang dội trên bầu trời Khe Sanh - Quảng Trị khi ấy.
Chiến thắng Tà Cơn của ông cùng đồng đội đã góp phần to lớn vào thắng lợi vẻ vang của quân và dân ta ở Mặt trận Đường 9 Khe Sanh, gắn chặt với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1968, góp phần quan trọng buộc Mỹ phải ngừng ném bom miền Bắc và ngồi vào vòng đàm phán Paris, khởi đầu một quá trình thất bại về chiến lược của Mỹ đối với chiến tranh tại Việt Nam.
Rời chiến trường Khe Sanh, ông tiếp tục trong cuộc hành quân của cả dân tộc chiến đấu cùng đơn vị ở chiến Trường Tây Nguyên B3, chiến tranh biên giới Tây Nam...  
VẸN NGUYÊN KÝ ỨC NGÀY CHIẾN THẮNG
Vào một ngày cuối tháng Tư, chúng tôi có dịp gặp cựu chiến binh Hoàng Xuân Nguyên, tại tổ 4, thị trấn Nguyên Bình. Trong ông luôn vẹn nguyên ký ức ngày chiến thắng dù 44 năm đã trôi qua.

Ông Hoàng Xuân Nguyên (ngoài cùng bên trái) kể lại những kỷ niệm chiến trường.

Sau khi huấn luyện xong, tháng 8/1973 ông Nguyên biên chế  về Đại đội 8, Tiểu đoàn 3,Quân đoàn 3 Tăng thiết giáp, đóng quân tại Tân Cảnh - Kon Tum. Đêm 28 rạng ngày 29/4/1975, đơn vị ông được lệnh phối hợp với bộ đội và du kích địa phương tiêu diệt căn cứ Đồng Dù. Sau một đêm vượt qua bãi lầy dưới tầm pháo của địch làm công tác chuẩn bị, 5 giờ ngày 29/4, ta bắt đầu nổ súng. Không gian Đồng Dù như trong cơn bão lửa. Mặc cho tiếng nổ chát chúa, chiếc xe tăng mang số hiệu 813 được giao nhiệm vụ tiên phong tiến vào căn cứ Đồng Dù đánh chiếm cửa mở khu quân sự của Mỹ.

Do sự chống trả quyết liệt của địch, xe tăng bị trúng bom ngay cửa mở làm 2 người bị thương, 1 người hy sinh, ngay lúc này ông nhận nhiệm vụ phải quay lại để bảo vệ thương binh trong xe. Ông ra hiệu, chỉ tay vào hỏa điểm địch để đồng đội bắn. Đến gần 11 giờ tiếng súng trong căn cứ thưa dần, quân địch đã bị tiêu diệt và tan rã.

Đến chiều 1/5, ông Nguyên và đồng đội mới được lệnh rút khỏi căn cứ Đồng Dù sau khi làm nhiệm vụ đánh chiếm và mở đường. Cùng với những đoàn quân khác, đơn vị của ông đã góp phần làm nên chiến thắng lịch sử của dân tộc.        

Nhóm Phóng viên

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh