Tiếng gọi từ Mác Nẻng, Cà Lò

Thứ bảy 11/02/2012 13:00

    Tiết trời cuối đông, rét thêm tê tái bởi trĩu nặng những cơn mưa phùn dai dẳng, với lớp mây mù trắng xốp, dày đặc phủ lên những ngọn núi đá trập trùng của xã Khánh Xuân (Bảo Lạc). Xe ô tô của đoàn chúng tôi vượt trụ sở xã một đoạn rồi rẽ vào đường dưới vách núi đá dựng đứng để đến với bà con dân tộc Dao, xóm Mác Nẻng, Cà Lò. Biết rất gian khó nhưng cả đoàn ai cũng háo hức “leo núi, với mây” với cái rét dưới 50C để đến đỉnh núi xa kia - đất biên cương có bà con đang sống gian khó, kiên cường.

Tiếng gọi từ Mác Nẻng, Cà Lò

Nhân dân các xóm Mác Nẻng, Cà Lò, Hò Lù, xã Khánh Xuân (Bảo Lạc) chuyển từng can nước leo núi về bản làng.

ĐI TRÊN VỰC THẲM

Xe ô tô của đoàn công tác chúng tôi vừa rẽ vào đường núi thì gặp bà con dắt ngựa thồ hàng đi từng bước nặng nhọc ở phía trước. Đồng chí Tô Thị Lợi, Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy Bảo Lạc cho biết: Đường từ trung tâm xã Khánh Xuân đi các xóm: Lũng Khuyết, Lũng Rì, Cốc Lại, Lũng Pjao rồi leo ngược núi lên Mác Nẻng, Cà Lò chỉ hơn 10 km nhưng toàn dốc đá hiểm trở, nhiều đoạn thi công chưa xong. Mưa dai dẳng, nền đường hẹp, đất đỏ và đá trơn trượt nên không có xe nào đi an toàn bằng đi ngựa. Trước năm 2008, đây là đường mòn rộng chỉ bằng lưng con ngựa thồ. Năm 2009, con đường này bắt đầu thi công, đến nay vẫn chưa xong vì quá hiểm trở.

Trước dốc dựng đứng đá hộc lởm chởm, đất bùn đỏ nhầy nhụa nổi sống trâu và rãnh sâu hoắm nên xe hay bị trượt ngang phía sau. Một bên là taluy dương và một bên là vực thẳm sâu hun hút. Từ trên đường nhìn xuống là đầu nguồn sông Gâm, bắt nguồn từ huyện Nà Po (Trung Quốc) như dải lụa nhỏ xíu, ngoằn nghoèo khía sâu vào hai vách núi, mái nhà sàn chỉ bé tẹo như hạt ngô. Dưới đó gọi là Khe Hổ Nhảy. Mỗi lần anh lái xe cho xe tiến lên phải căn chính xác từng cm mép đường, còn chúng tôi “thót tim” từng phút, thầm nói “cố lên”. Đến Lũng Rì thì đất đỏ cuộn chặt ngoài bánh xe. Cả đoàn xuống xe, chuyển 37 suất quà Tết cho đồng bào gồng gánh lên vai tiếp tục hành trình. Đi bộ hơn 6 km núi đá cheo leo bên vực thẳm.

 Cả đoàn ai cũng đổ mồ hôi ròng ròng trước cái rét dưới 50C. Vượt qua Lũng Rì, Cốc Lại đến Lũng Pjao, chúng tôi leo lên con đường nhỏ như sợi dây vắt ngược lên núi đá trong mây mù. Sau hơn 2 giờ leo núi, cả đoàn vượt chặng đường cuối cùng, khi thấy trong mây mù thấp thoáng mái nhà sàn của xóm Mác Nẻng, lên cao nữa là Cà Lò cheo leo giữa vách núi.

 NƠI SỐNG CHỜ “NƯỚC TRỜI”

          Quá 12 giờ trưa, chúng tôi đến nơi. Đại diện 37 hộ xóm Mác Nẻng, Cà Lò đã ngồi đợi đoàn từ sáng sớm. Qua thông dịch của Thiếu úy Triệu Văn Khe, dân tộc Dao, Tổ công tác Đồn Biên phòng Xuân Trường; Trưởng xóm Mác Nẻng Chảo Sềnh Phẩy và Trưởng xóm Cà Lò Chảo Khì Nhan chúng tôi mới hiểu: Cái khổ nhất của bản là chỉ chờ trời mưa mới có nước sinh hoạt. Hiếm nước nên nhà nào cũng dùng tằn tiện từng gáo. Đến tháng 9 hằng năm thì cạn bể dự trữ. Dân bản đi bộ mấy km đường núi đến xóm Lũng Diểm, Nà Po (Trung Quốc) mua nước sạch rồi gùi về. Chờ “nước trời” còn chưa đủ sống nên việc trồng ngô vụ xuân hè trên hốc đá như đánh đố với trời. Mất mùa diễn ra liên miên, từ tháng 9 - 12 cả bản đói đứt bữa. Vậy nên không có hộ nào phát triển chăn nuôi ngoài thả rông mấy con bò gầy vì  không đủ cỏ ăn.

Cán bộ huyện Bảo Lạc hỗ trợ tiền ăn Tết cho bà con xóm Cà Lò.

    Theo chân Chảo Sềnh Phẩy, chúng tôi đến xóm Mác Nẻng. Cảnh sống trên “sa mạc đá” khô khát khiến chúng tôi không khỏi nao lòng. Cả xóm không có cây to nào, chỉ trơ trọi nhà sàn chênh vênh giữa vách núi đá. Đến đầu xóm, Chảo Sềnh Phẩy chỉ cho chúng tôi hốc đá sâu hơn 50cm, có một ít nước dưới đáy vì trời vừa mưa nhỏ mấy hôm. Vũng nước này để cho mấy con bò của xóm uống. Nhà nào cũng vậy, bể nước khô khốc. Máng hứng nước trên mái nhà làm bằng cây vầu nứt toác vì lâu ngày không ngấm nước mưa. Trong ngôi nhà sàn tuềnh toàng, trống hoác của Chảo Sềnh Phẩy, 5 đứa trẻ đang ngồi bên bàn ăn bữa trưa với món duy nhất là cháo ngô. Bọn trẻ run lập cập vì không có áo ấm mặc. Anh Phẩy nói, 3 ngày/lần đi mua được hơn chục lít nước nên chỉ đủ nấu cháo ngô. Lên cao nữa là xóm Cà Lò, Hò Lù quanh năm sương phủ tưởng như tay với lấy nước nhưng trời cho sương lạnh, không cho mưa. Chảo Khì Nhan kể: Một gáo nước dùng để đãi ngô nấu ăn, sau đó rửa rau rồi cho bò uống.Đã gắn bó lâu năm với bà con nơi đây, đồng chí Lợi chia sẻ: Mỗi lần đoàn công tác của huyện đến các xóm vận động bà con sinh đẻ kế hoạch, cho trẻ em đi học, phải gùi theo gạo, mì tôm, rau xanh và cả can nước để nấu ăn với dân bản. Vì mỗi xóm chỉ hơn 10 hộ nhưng có trên 100 nhân khẩu do đẻ nhiều; người lớn mù chữ và không biết tiếng phổ thông công tác vận động quần chúng gặp nhiều khó khăn. Phần lớn trẻ em học lên lớp 5 thì bỏ vì đường đi học quá xa.

           MỘT TẤC ĐẤT... NGHÌN KHÓ KHĂN

    Trước cuộc sống của bà con còn nhiều gian khổ từ năm 2005 trở lại đây, huyện Bảo Lạc đã dành các nguồn vốn đầu tư cho xóm biên giới. Không chỉ hỗ trợ tiền, huyện, xã, đồn Biên phòng tìm mua từng cột gỗ, viên ngói, bao cát, xi măng, cõng từng can nước... cùng bà con chuyển tất cả trên vai leo núi làm nhà, xây bể, lớp học và hằng năm hỗ trợ đời sống, sản xuất, gạo cứu đói giáp hạt... Nghe đồng chí Lợi kể, chúng tôi thấm thía một mái nhà, bể nước, lớp học cho xóm và một ngày sống ở nơi đây phải đổ xuống không biết bao nhiêu giọt mồ hôi, hàng vạn bước chân bấm núi của bà con. Cán bộ huyện, xã, bộ đội Biên phòng và thầy cô giáo cắm bản đã nặng lòng gắn bó với mảnh đất biên cương gian khó này. Giọng đồng chí Lợi nghẹn lại khi nói về gian khó phía trước. Đường có thể làm nhưng kéo điện đến xóm với địa hình hiểm trở thì không biết khi nào làm được? Có cháu bé nào đủ sức 3 năm đi đến xã học lên THPT? Có thể xây thêm nhiều bể nước cho bà con nhưng núi đá trồng ngô vẫn không có nước... Tìm hướng thoát đói nghèo bền vững cho bà con là vấn đề mà cấp ủy, chính quyền huyện trăn trở, quyết tâm.Tiễn chúng tôi ra về, cậu bé Chảo A San - người duy nhất của 3 xóm Mác Nẻng, Cà Lò và Hò Lù học đến lớp 9, nói sõi tiếng phổ thông, tâm sự: Cháu muốn có nhiều thanh niên, trẻ em trong bản đi học hết THPT, học cao hơn cháu nữa để bớt khổ. Câu nói của Chảo A San cứ vọng mãi trong tâm trí chúng tôi. Nơi đỉnh núi cao xa vợi, dù gian khổ, đồng bào vẫn sống và khát vọng vươn lên, giữ đất biên cương. Đó là tiếng gọi cho chúng ta hướng về nơi ấy, cùng góp sức giúp bà con ổn định cuộc sống, giữ vững từng tấc đất thiêng liêng nơi địa đầu Tổ quốc.

                                                                                                                            Trường Hà

 

 

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh