Bạn đang xem: Trang chủ » Ký - Phóng sự

Những thợ rèn nơi hè phố

Chủ nhật 19/05/2019 16:00

“Giữa trăm nghề, chọn nghề thợ rèn/Ngồi xuống nhọ lưng, quệt ngang nhọ mũi/Suốt tám giờ chân than mặt bụi/Hai vai trần bóng nhẫy mồ hôi...”. Nói đến nghề rèn truyền thống ở Cao Bằng ai cũng biết đến làng nghề rèn Phúc Sen (Quảng Uyên). Nhưng tại Thành phố cũng có những người thợ vất vả quanh năm bên lò đỏ lửa để giữ nghề rèn truyền thống cha ông để lại.

Lò rèn của ông Ngọc Văn Kin.

NÍU GIỮ NGHỀ TỔ TRÊN PHỐ
Vào một buổi sáng đầu tuần, chúng tôi đến lò rèn của ông Ngọc Văn Kin, gần khu vực chợ Xanh. Lò rèn của ông Kin ngổn ngang với đủ thứ phục vụ cho nghề rèn. Ông Kin tâm sự: Tôi sinh ra và lớn lên tại thị trấn huyện Quảng Uyên; gia đình từ đời các cụ đã làm nghề rèn. Lò rèn của gia đình là một trong những lò rèn đầu tiên ở thị trấn Quảng Uyên. Khoảng 8 tuổi, mỗi ngày, bố cho tôi đứng cạnh xem bố và ông làm rèn. Dần dần, hình ảnh ông và bố hằng ngày quai búa bên những ánh lửa bập bùng đã in sâu vào tiềm thức của tôi. Tôi yêu thích và mơ ước sau này sẽ trở thành một thợ rèn giỏi từ lúc nào không hay. Đến 12 tuổi thì tôi biết phụ giúp gia đình làm một số công đoạn đơn giản để rèn dao, từ giữ dao, rồi quai búa, mài thép...
Chưa đầy 20 tuổi, ông Kin đã làm chủ kỹ thuật tôi thép - một trong những kỹ thuật khó nhất của nghề rèn, bởi tôi đến độ nào thì vừa để lưỡi dao sắc bén nhất, có độ bền lâu nhất không phải người thợ nào cũng làm được. Thời điểm đó, tất cả các công đoạn làm rèn đều là thủ công nên rất vất vả, mỗi người thợ lành nghề mỗi ngày chỉ rèn được 1 - 2 con dao. Đến năm 1995, ông ra Thành phố mở lò rèn gần khu vực chợ Xanh và duy trì đến ngày nay.
Theo ông Kin, nguyên liệu làm ra sản phẩm rèn là thép lấy từ lá nhíp xe ô tô cũ, mà phải là loại xe của Nga hoặc Đức mới tốt. Ngoài lá nhíp ô tô, có thể dùng đường ray của tàu hỏa cũng rất tốt nhưng do thép dày nên công đoạn cắt tạo hình khó khăn hơn. Để làm ra một sản phẩm phải trải qua nhiều công đoạn phức tạp đòi hỏi người thợ phải có tính kiên trì, đôi mắt tinh tường, sức khỏe bền bỉ, đặc biệt là phải yêu nghề, đem cái tâm vào mỗi sản phẩm. Muốn sản xuất ra một sản phẩm tốt, người thợ phải đánh giá được chất lượng của thép thông qua kinh nghiệm làm nghề. Khi nung, rèn, người thợ phải biết điều chỉnh nhiệt độ của lửa và thời gian nung phù hợp. Nếu non, sản phẩm dễ bị sứt, mẻ, móp méo. Ngược lại, nếu già quá, sản phẩm làm ra sẽ giòn, nứt và dễ gãy. Có những sản phẩm sử dụng chỉ vài tháng nhưng cũng có sản phẩm có thể dùng vài chục năm. Đó cũng chính là yếu tố quan trọng để khách hàng đánh giá sản phẩm có đạt chất lượng, có xứng đáng với đồng tiền họ bỏ ra.
Hiện nay, ông Kin chủ yếu rèn dao theo đơn đặt hàng. Ngoài ra, ông nhận tôi lại dao và các vật dụng khác, mài dao, mũi khoan, lưỡi cắt cỏ… với giá khoảng vài chục nghìn đồng/sản phẩm. Mong muốn của ông là tìm một người có tâm, có tài để truyền nghề nhưng có khá nhiều người đến học nghề mà vẫn chưa đạt theo mong muốn của ông. Điều ông lo nhất hiện nay là nghề rèn dần mai một vì con cháu không ai muốn theo nghề.
50 NĂM GIỮ LỬA NGHỀ RÈN
Sinh ra và lớn lên tại xóm Tình Đông, xã Phúc Sen (Quảng Uyên), ông Lương Văn Thông, 70 tuổi đã có hơn 50 năm gắn bó với nghề rèn. Đến lò rèn của ông Thông tại tổ 14, phường Sông Hiến (Thành phố), có mấy khách hàng đang đợi ông lấy sản phẩm. Gọi là lò rèn nhưng thực chất chỗ ông làm rèn chỉ rộng chưa đến 10 m2, quá chật hẹp để làm cái nghề vất vả với đủ thứ vật dụng này.

Ông Lương Văn Thông rèn dao.

Ông Thông chia sẻ: Từ đời ông nội tôi đã làm nghề rèn. Từ nhỏ, thấy bố cùng các anh làm rèn hằng ngày, tôi học làm dần dần. Đến năm 27 tuổi, tôi ra Thành phố mở lò rèn tại phường Sông Hiến. Có thời điểm, lò có 5 - 6 thợ; mỗi ngày sản xuất 10 - 12 con dao các loại. Năm 1992, tôi đầu tư mua búa máy để sản xuất dao. Nhờ đó, sản lượng làm ra tăng gấp mấy lần, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Sản phẩm làm đến đâu bán hết đến đấy, có nhiều thợ cũng đến xin học việc. Những ngày giáp Tết, đơn hàng từ các nơi đổ về, rồi khách qua đường biết tiếng cũng chọn mua các sản phẩm dao, liềm...
Hiện nay, ông Thông tự rèn dao chủ yếu để giữ nghề và phục vụ khách quen; sức khỏe không còn tốt nên có khi 1 - 2 ngày mới hoàn thành một con dao. Ngoài dao, sản phẩm rèn của ông chủ yếu là các nông cụ cầm tay phục vụ cuộc sống hằng ngày, như: búa, liềm, cuốc, rìu... giá bán trung bình từ 50 - 300 nghìn đồng/sản phẩm. Với hơn 50 năm gắn bó với nghề rèn, nỗi lo không có người kế nghiệp của ông Thông vẫn canh cánh trong lòng vì con cái không yêu thích và muốn theo nghề, người đến học nghề cũng chỉ một thời gian là bỏ vì quá vất vả.
Vất vả là thế, nhưng từ bao đời nay, cũng như ở Phúc Sen, các lò rèn ở Thành phố vẫn trụ vững trên thị trường. Dẫu chỉ dừng lại ở những nông cụ quen thuộc, nhưng tinh hoa của nghề qua bao đời được những người thợ rèn nơi đây lưu giữ và phát triển nghề theo những cách riêng. Mong rằng, nghề rèn truyền thống đã có hàng trăm năm sẽ được gìn giữ, trường tồn cùng thời gian không chỉ ở Phúc Sen mà còn ở Thành phố, để giữ gìn một nét văn hóa đặc sắc của người Nùng An nơi phố thị.

Công Hải

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh