Bạn đang xem: Trang chủ » Ký - Phóng sự

Những người góp phần làm nên bản hùng ca đất nước

Thứ hai 30/04/2018 06:00

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng ký ức về một thời hào hùng của đất nước luôn còn mãi trong tiềm thức của những cựu chiến binh. Họ là những nhân chứng của lịch sử về một thời mưa bom, đạn lửa. Trải qua hơn 40 năm đất nước hòa bình, hồi ức về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh vẫn còn in đậm trong tâm trí của mỗi người.

Các cựu chiến binh ôn truyền thống lịch sử về Chiến thắng ngày 30/4/1975.

XỨNG DANH “DŨNG SỸ DIỆT MỸ”
Cựu chiến binh Trần Đức Hòa, sinh 1954 tại Bình Long (Hòa An), mỗi khi nhớ về ngày 30/4/1975 đều không giấu được xúc động. Lúc 18 tuổi, ông nhập ngũ tại Trung đoàn 246, Quân khu 1. Thời điểm đó, chiến tranh rất ác liệt, sau khi huấn luyện trinh sát 8 tháng, ông  hành quân vào miền Nam. Đến tháng 4/1973, ông theo đơn vị đến Kon Tum.
Giọng ông Hòa hào hứng: Nhiệm vụ của tôi là trinh sát mặt trận Tây Nguyên, nguy hiểm rình rập. Máy bay B52 của địch rải bom liên tục, nhiều cánh rừng bị trụi lá vì chất độc hóa học, nhiều lúc giáp lá cà với quân địch đi càn nhưng với tinh thần hăng hái của người lính, tất cả đều sẵn sàng làm nhiệm vụ...
Đối với ông, có một kỷ niệm không bao giờ quên, để chuẩn bị cho Chiến dịch Tây Nguyên, ông cùng đồng đội trinh sát thị xã Buôn Ma Thuột. Lực lượng trinh sát được tăng cường thêm một bộ phận thuộc Sư đoàn 31 đóng quân ở Lào. Để đột nhập vào thị xã, tiểu đội của ông phải vượt từ bên đường này sang bên đường kia tại một điểm chốt của địch ở đầu cầu cách Buôn Ma Thuột khoảng 1 km. Ông là người đi đầu tiên và lấy ám hiệu bằng gõ báng súng để từng cá nhân vượt qua đường, nhưng đến người cuối cùng thì nòng súng vướng vào bụi cây và làm động hệ thống ống bơ địch giăng nên bị bắt. Sau khi đã trở về đơn vị an toàn, lệnh cấp trên yêu cầu bất cứ giá nào cũng phải cứu bằng được chiến sĩ trinh sát ra.

Cựu chiến binh Trần Đức Hòa.

Sau nhiều đêm đột kích, địch đã có sự đề phòng nên không thể tìm thấy đồng đội bị bắt. Lúc đó, khả năng toàn bộ Chiến dịch có thể bị hủy bỏ vì lộ. Nhưng với sự đánh giá của ta, chiến sĩ đó sẽ không khai báo, hoặc nếu khai báo thì do từ đơn vị mới về nên không nắm được kế hoạch và sẽ không có giá trị thông tin. Từ đó Chiến dịch vẫn tiếp tục được thực hiện. Sau khi chiếm được thị xã Buôn Ma Thuột, người chiến sĩ đó đã bị địch cưa mất một chân nhưng quyết không khai báo. Điều đó càng củng cố quyết tâm của người lính trinh sát như ông Hòa về niềm tin thắng lợi đang đến gần.
Tiếp đà thắng lợi, quân ta tiến xuống duyên hải Trung Trung Bộ, tiểu đội trinh sát của ông hướng về Nha Trang (Khánh Hòa). Trong thành phần có Đại úy Lê Cự Hưng, Phó Tham mưu trưởng Lữ đoàn 7 Công binh, Quân đoàn 3 đi cùng. Sau khi cắt rừng vượt qua Cam Ranh đến địa hình toàn đồi cỏ gianh thì địch phát hiện ra quân ta. Có ba chiếc trực thăng lao tới, không có nhiều thời gian, ông nằm đè lên Đại úy Hưng. Ngay loạt đạn đại liên đầu tiên, đã có 4 đồng chí hy sinh. Sau đó chúng bay vòng lại để chuẩn bị xả đạn. Trong khoảnh khắc, ông Hòa nhỏm dậy, quỳ gối bắn vào chiếc trực thăng đi đầu. Trực thăng trúng đạn bay loạng choạng và đâm vào sườn đồi nổ tung. Hai chiếc còn lại tháo chạy. Kiểm lại quân số, cả đoàn chỉ còn 4 người; trong ba lô của ông có găm hai đầu đạn đại liên. Ngay tại đó, Phó Tham mưu trưởng Lê Cự Hưng tuyên bố kết nạp ông vào Đảng. Sau trận đó, ông Hòa vinh dự được tặng thưởng danh hiệu “Dũng sỹ diệt Mỹ” và Huân chương Chiến công hạng Ba.
Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, với cương vị Trung đội trưởng trinh sát, ông được lệnh trinh sát căn cứ Đồng Dù (Củ Chi), cách trung tâm Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh) khoảng 30 km. Căn cứ quân sự này là nơi phòng thủ của Sư đoàn bộ binh 25 ngụy có biệt danh "Tia chớp nhiệt đới" do Chuẩn tướng Lý Tòng Bá chỉ huy. Đây là căn cứ quân sự hỗn hợp dài 2,8 km, rộng 1,8 km, có khoảng 3.000 tên địch với hệ thống hỏa lực cực mạnh. Để trinh sát địch, ông cùng đồng đội phải vượt qua hàng rào dây thép gai khổng lồ, cài mìn đủ loại rộng từ 80 - 100 m, hào giao thông và lô cốt dày đặc. Sau khi quân ta làm chủ "cánh cửa thép" phía Tây Bắc Sài Gòn, ông lại được lệnh dẫn Lữ đoàn thiết giáp 273, Quân đoàn 3 đánh chiếm Sài Gòn.
MƯU TRÍ, DŨNG CẢM, LẬP NHIỀU CHIẾN CÔNG
Ông Mông Văn Ơn, 68 tuổi, hiện trú tại tổ 9, phường Hòa Chung (Thành phố), sinh ra tại xóm Bó Tẻng, xã Đại Sơn (Phục Hòa). Gia đình ông đã có hai anh đi bộ đội. Năm 1964, khi gia đình nhận được giấy báo tử của anh thứ nhất hy sinh tại Lào, còn anh thứ hai không có tin tức gì. Tháng 4/1970 ông xung phong nhập ngũ. Sau thời gian huấn luyện tại Đại đội 2, Tiểu đoàn 12, Sư đoàn 304B ở Tân Yên, Hà Bắc, đến cuối năm 1972, ông được lệnh vào chiến trường miền Nam. Ở mặt trận Tây Nguyên, ông được bổ sung vào Đại đội 6, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 48, Sư đoàn 320. Thời điểm này, quân Nguỵ tăng cường lấn chiếm vùng giải phóng, bị ta phản công đánh bại rồi chúng co cụm củng cố công sự trên trục đường 19, đường 21 như đồn Chư Nghé, đồn Tầm, đồn Mé... nhưng quân ta đã tổ chức tấn công và lần lượt giải phóng.
Sau khi thất thủ thị xã Buôn Ma Thuột, quân ngụy quyết định rút Quân đoàn 2 khỏi Tây Nguyên theo đường số 7. Từ ngày 17 - 23/3/1975, Sư đoàn 320 truy kích quân địch. Trên cương vị Đại đội trưởng, ông chỉ huy lực lượng tiến đánh vào thị trấn Cheo Reo, Phú Bổn. Trận truy kích kết thúc, quân ta đã tiêu diệt Quân đoàn 2 ngụy, bắt gần 1 vạn tên, thu và phá hủy 1.400 xe các loại, giải phóng hàng chục vạn dân. Trong trận này, ông được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất.
 

Ông Ơn ôn lại những kỷ niệm thời quân ngũ.

Khi bắt đầu Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, với tinh thần "Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa", đơn vị ông đã cơ động hành quân bằng cơ giới đến Đồng Nai và đánh chiếm căn cứ Đồng Dù (Củ Chi). Trận đánh diễn ra ác liệt nhưng ở các hướng đều không giành được thắng lợi. Bộ Tư lệnh Sư đoàn 320A quyết định tung lực lượng dự bị vào trận. Theo hướng Tây Bắc, đơn vị ông vượt cửa mở đánh chiếm khu công binh, trường huấn luyện, đè bẹp hàng chục ổ đề kháng dài hàng trăm mét của địch. Đến 11 giờ ngày 29/4/1975, quân ta đã làm chủ căn cứ Đồng Dù. Chuẩn tướng Lý Bá Tòng, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 25 của ngụy bị bắt. Quân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu gần 3.000 tên địch, thu và phá hủy 4.900 súng các loại, hơn 400 xe quân sự, bắn rơi 2 máy bay... Sau đó, đơn vị ra khỏi căn cứ và đóng quân ở rừng cao su chờ lệnh khi cần sẽ đánh vào Sài Gòn. Đến 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, Sài Gòn được giải phóng...
GÓP PHẦN LÀM NÊN ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 1975
Đó là Đại tá Lê Ích Quân, sinh năm 1945, trú tại thị trấn Nước Hai (Hòa An). Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông cùng đồng đội đã tham gia nhiều trận đánh lớn nhỏ, triệt phá nhiều căn cứ quan trọng của địch, góp phần làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975, thống nhất đất nước.
Năm 1964, ông lên đường nhập ngũ và được huấn luyện tại Sóc Sơn (Hà Nội), sau đó vào miền Nam. Quá trình chiến đấu, ông bị thương và ra Bắc để điều trị. Sau đó ông lại tiếp tục vào Nam chiến đấu. Ông được biên chế vào Trung đoàn 141, Sư đoàn 2. Mặc dù thiếu thốn về lương thực, thuốc men, nhưng tinh thần của ông cùng đồng đội không hề bị lung lay và sẵn sàng tham gia chiến đấu. Ông tâm sự: Lúc đó tâm trạng của mỗi người đều hăng hái, ai cũng tâm niệm “khi đi không hẹn ngày về, đánh không dứt điểm không về quê hương”.
Năm 1967, đơn vị ông hoạt động ở khu vực sông Vàm Cỏ Đông. Tháng 2/1967, trong một lần hành quân đi tải đạn tại địa phận Bá Đà, đơn vị ông bị phục kích và ông bị thương ở hai chân. Sau 15 ngày vừa tránh địch đi càn vừa cầm cự với thiên nhiên khắc nghiệt và cơn đói hành hạ, ông đã được đồng đội cứu sống. Sau khi được điều trị, vết thương của ông hồi phục. Đến tháng 7/1967, sau một thời gian chuẩn bị, ông lại tiếp tục tham gia trận đánh Tân Hưng với quy mô cấp trung đoàn, với ý chí “đánh phải thắng”, phải dứt điểm trong trận đánh; ông trực tiếp tham gia chiến đấu cùng đồng đội. Quân ta đã tiêu diệt, bắt sống nhiều tù binh, bản thân ông bị thương lần thứ ba.
Trước và sau cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân năm 1968, đơn vị ông đã lập được nhiều chiến công lớn, đến tháng 2/1969, ông được phong làm Đại đội trưởng. Tháng 7/1969, ông là Tiểu đoàn phó. Năm 1970 - 1971, đơn vị ông tiếp tục tham gia nhiều trận đánh tại vùng biên giới và lãnh thổ Campuchia. Sư đoàn 7 là một trong những sư đoàn chủ lực góp phần làm phá sản chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ.
Tháng 1/1975, Trung đoàn 141 do ông chỉ huy được lệnh phối hợp với các đơn vị chủ lực khác tiến đánh giải phóng Phước Long. Chiến thắng Phước Long đã làm thay đổi cục diện chiến tranh, tạo thế và lực cho quân ta tổng tấn công giải phóng hoàn toàn miền Nam. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, đơn vị ông đã tham gia tiến công giải phóng thị xã Xuân Lộc và là một trong 5 cánh quân tiến về giải phóng Sài Gòn.
Đến 12 giờ ngày 30/4/1975, ông cùng đơn vị đã có mặt tại Dinh Độc lập. Lúc này, cả Sài Gòn cuồn cuộn dòng người, rừng cờ, biển hoa và tiếng reo hò vui sướng của quân dân ta. Riêng đối với ông Quân, sau bao nhiêu năm chiến đấu đến nay mới có ngày chiến thắng, ông nhớ về gia đình, quê hương và trào dâng nước mắt vì hạnh phúc.

Ông Quân nhớ lại kỷ niệm chiến trường.

Với gần 40 năm trong quân ngũ, ông Quân bị thương 12 lần với tỷ lệ thương tật 41%, được tặng thưởng 16 huân chương các loại, trong đó có Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất. Ông từng giữ chức vụ Sư đoàn trưởng Sư đoàn 346, Phó Hiệu trưởng Trường Quân sự, đến năm 2003 ông về nghỉ hưu theo chế độ.
Với mỗi người dân Việt Nam, chiến thắng của Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đã đi vào lịch sử như một mốc son chói lọi của dân tộc. Là niềm tự hào có sức mạnh cổ vũ các thế hệ tiếp bước cha anh ra sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.                             

Nhóm phóng viên

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh