Bạn đang xem: Trang chủ » Ký - Phóng sự

Những người “giữ hồn” tinh hoa văn hóa dân tộc

Thứ năm 22/02/2018 07:00

Bằng tình yêu, niềm đam mê với các di sản văn hóa dân tộc mà những người như: Nghệ nhân Ưu tú (NNƯT) Nông Thị Ngần, Nghệ nhân dân gian Đặng Văn Sỉnh, Tiến sỹ Triệu Thị Kiều Dung… đang đêm ngày tích lũy, truyền thụ và lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống với ước vọng lớn là giữ gìn văn hóa giàu bản sắc của dân tộc mình.

Nghệ nhân Ưu tú Nông Thị Ngần truyền dạy hát dân ca Nùng cho thế hệ trẻ.
“GIỮ LỬA” ĐỂ LÀN ĐIỆU HÀ LỀU MÃI VANG XA
Mỗi độ xuân về, đặc biệt trong dịp Lễ hội Pháo hoa tại Thị trấn huyện Quảng Uyên vào ngày mùng 2/2 (âm lịch) hằng năm, ngôi nhà nhỏ của NNƯT Nông Thị Ngần tại phố Hòa Nam lại vang lên những làn điệu dân ca dân tộc Nùng, như: Sli, lượn, pựt lằn… và đặc biệt làn điệu Hà Lều say đắm lòng người của bà Ngần cùng những người yêu dân ca từ các huyện: Quảng Uyên, Trùng Khánh, Trà Lĩnh, Hà Quảng… quây quần bên nhau hát đối đáp không dứt, có khi kéo dài 3 ngày 3 đêm. Ai cũng bị cuốn hút vào giọng hát vừa đằm thắm, da diết lại vừa ngọt ngào, chứa chan tình cảm của bà Ngần. Hơn nữa, với tài sáng tác, ứng tác ngay tại chỗ, những câu hát được chắt lọc, rất dễ hiểu, dễ nhớ, mộc mạc…
NNƯT Nông Thị Ngần sinh năm 1956, dân tộc Nùng, tại xóm Chắm Ché, xã Độc Lập (Quảng Uyên). Ngay từ nhỏ, bà được theo chân các chị trong xóm hát trong những đêm xuân, những phiên chợ... Những lời hát mượt mà tự thấm sâu vào máu thịt và trở thành niềm đam mê từ nhỏ. Từ những năm 1993, NNƯT Nông Thị Ngần đã bắt đầu sáng tác các bài hát mang làn điệu Hà Lều. Từ năm 1998 - 2000, bà tham gia Hội diễn Dân ca toàn quốc đoạt Huy chương vàng, bạc và nhiều giải cao; năm 2002, là thành viên của Đoàn Việt Nam tham gia trình diễn dân ca tại một loạt các nước trong khối ASEAN; được tặng rất nhiều giấy khen, bằng khen các cấp vì đã có thành tích thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triển văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Năm 2011, bà là hội viên Hội Bảo tồn dân ca tỉnh, năm 2014 là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Bảo tồn dân ca huyện Quảng Uyên… Đặc biệt, để gìn giữ và phát huy làn điệu Hà Lều nói riêng và dân ca dân tộc Nùng nói chung tại Quảng Uyên, bà Ngần đã truyền dạy cho hơn 100 học trò ở mọi lứa tuổi, trong đó có rất nhiều học trò tham gia và đoạt nhiều giải cao tại các liên hoan dân ca các cấp.
 GIỮ GÌN “HỒN” CỦA NGƯỜI DAO GIỮA ĐẠI NGÀN
Người Dao ở huyện Thông Nông nói riêng và trên địa bàn tỉnh nói chung có tục thờ tranh trên bàn thờ hoặc treo tranh trong thực hiện các nghi lễ trong suốt cuộc đời mỗi người, như: Lễ cấp sắc, mừng nhà mới, tang ma…, trở thành một nét văn hóa đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, người biết vẽ những bức tranh thờ người Dao rất hiếm bởi phải rất am hiểu, tỉ mỉ và tài hoa mới vẽ được bức tranh thờ vừa sống động vừa mang cốt cách, tâm hồn của người Dao, chứa đựng đời sống tâm linh, ý nghĩa xã hội sâu sắc và những ước vọng của con người, với những giá trị văn hóa nổi bật ẩn sâu trong tiềm thức của cộng đồng người Dao. Ông Đặng Văn Sỉnh, dân tộc Dao, nay đã ngoài 78 tuổi ở xóm Tắp Ná, xã Thanh Long (Thông Nông) là một trong những người tài hoa hiếm hoi cuối cùng vẽ tranh thờ, được mọi người coi như người giữ “hồn” của người Dao giữa đại ngàn.
Ông Đặng Văn Sỉnh bên các bức tranh thờ.
Theo ông Sỉnh, những bức tranh thờ thể hiện quan niệm của người Dao về vũ trụ, triết lý và mối quan hệ giữa cuộc sống với con người và vạn vật. Chất liệu sử dụng vẽ tranh là giấy dó sau đó dùng keo da trâu (da trâu khô nấu lên với một số lá cây rừng thành keo) làm chất kết dính để dính 10 - 15 tờ giấy lại có độ dày khoảng 0,3 mm tạo độ dai và bền cho bức tranh. Trước khi vẽ lên giấy dó cần vẽ phác thảo nhiều lần lên giấy trắng sau khi đã thử vẽ và tô nhiều lần mới chính thức vẽ. Có những bức tranh thể hiện 73 khuôn mặt người với các biểu cảm khác nhau với nét tả thực. Bố cục tranh được sắp xếp đan xen giữa các vị thần và con người, ma quỷ trên cùng một mặt tranh, lối vẽ không theo luật viễn cận mà theo quan niệm về vai trò và chức trách của các vị thần, các thần chính được vẽ to, chiếm diện tích lớn, choán hết mặt tranh. Thần phụ, con người, quân lính được vẽ nhỏ, đôi khi rất nhỏ, làm tăng sự tập trung và oai nghiêm của thần chính. Một bộ tranh thờ đầy đủ của người Dao có hơn 30 bức với hình vẽ các vị thần hoặc con vật cai quản, bảo trợ cuộc sống con người. Mỗi bức tranh có hình chữ nhật dài khoảng 1 m, rộng 60 cm. Tùy theo nghi lễ to nhỏ mà treo số lượng tranh khách nhau: 3 bức, 5 bức, 7 bức… nhưng phải luôn treo tranh số lẻ. Nếu là thầy tào người Dao thì phải có thêm một bức rộng gần 50 cm, dài hơn 3 m, khi làm lễ được treo ngang. Do đó, để hoàn thiện 1 bức tranh có thể phải mất 10 - 15 ngày, hoàn thành một bộ tranh có thể mất mấy tháng hoặc cả năm trời.
Trước đây, nhiều gia đình đến đón ông về nhà mình 2 - 3 tháng để vẽ tranh. Nhưng những năm gần đây, do có tuổi và sức khỏe yếu nên ông chỉ vẽ tranh tại nhà khi có người đặt. Ông Sỉnh  mong truyền dạy được cho nhiều người vẽ tranh thờ với mong muốn giữ gìn bản sắc văn hóa người Dao. Đã có một số người đến nhà ông học một thời gian nhưng việc vẽ tranh thờ không chỉ đòi hỏi năng khiếu mà còn cần sự chăm chỉ, miệt mài và tình yêu nghề nên ngoài con trai ông Sỉnh đang học tập và bắt đầu vẽ được một số bức, chưa có nhiều người Dao vẽ được những bức tranh thờ vốn được coi là một trong những biểu tượng văn hóa đậm đà bản sắc của người Dao. Đây cũng là điều khiến ông Sỉnh ngày đêm trăn trở.
NỮ TIẾN SỸ VỚI KHÁT VỌNG BẢO TỒN VĂN HÓA TÀY

Sinh ra và lớn lên tại mảnh đất Hà Quảng - cội nguồn quê hương cách mạng, cô gái người dân tộc Tày Triệu Thị Kiều Dung say mê với bản sắc văn hóa của dân tộc Tày với những lễ hội độc đáo, những tục lệ của người bản địa không lẫn vào bất kỳ dân tộc nào khác. Để thực hiện khát vọng góp sức mình gìn giữ, bảo tồn văn hóa Tày chị đã xác định con đường học cho riêng mình.
Sau khi tốt nghiệp THPT, chị chọn thi vào Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên; khi tốt nghiệp đại học chị trở về quê dạy học tại Trường THPT Nà Giàng (Hà Quảng). Sau đó, chị tiếp tục đến Đại học Dân tộc Quảng Tây (Trung Quốc) học thạc sỹ, chuyên ngành ngôn ngữ và ngôn ngữ học ứng dụng rồi trở về công tác tại Trường Cao đẳng Sư phạm Cao Bằng. Trong thời gian này, mong muốn tìm hiểu, khám phá những nét văn hóa truyền thống dân tộc Tày đưa chị tìm về những bản làng xa xôi trên địa bàn tỉnh gặp gỡ những nghệ nhân dân gian người Tày để nghiên cứu, giải mã những vốn quý văn hóa dân tộc. Càng đi nhiều, tình yêu văn hóa dân tộc càng cháy bỏng đã thôi thúc chị tìm bằng được “chìa khóa” để mở kho tàng văn hóa người Tày với việc làm luận án Tiến sỹ tại Đại học Ký Nam (Quảng Châu, Trung Quốc), chuyên ngành văn tự Hán ngữ. Chị trở thành một trong những người trẻ nhất am hiểu và đọc được chữ Nôm Tày cổ của Cao Bằng.
Tiến sỹ Triệu Thị Kiều Dung nghiên cứu văn bản Nôm Tày.

Tiến sỹ Triệu Thị Kiều Dung hiện đang là Trưởng Phòng Quản lý khoa học, Sở Khoa học và Công nghệ với bao công việc bộn bề, nhưng tình yêu văn hóa dân tộc Tày đã thôi thúc chị tiếp tục dành thời gian, tâm huyết để tham gia sưu tầm, nghiên cứu nhiều đề tài văn hóa Tày. Trong đó, Đề tài “Sưu tầm và nghiên cứu giá trị căn bản chữ Nôm Tày ở Cao Bằng” cấp tỉnh do chị làm chủ nhiệm thực hiện từ tháng 3/2015 - 2/2017 đã đạt xuất sắc. Đề tài có ý nghĩa thiết thực gìn giữ những văn bản Nôm Tày của cha ông truyền lại, đồng thời, góp phần phát huy những giá trị văn hóa phi vật thể đang có nguy cơ mai một.
Chị chia sẻ: Là người con của dân tộc Tày được sinh ra từ mảnh đất Cao Bằng giàu bản sắc văn hóa nên tôi có may mắn am hiểu những nét văn hóa của  dân tộc và càng cảm thấy mình có trách nhiệm trong việc nghiên cứu và bảo tồn nền văn hóa này cho thế hệ mai sau. 
Phúc Khang

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh