Bạn đang xem: Trang chủ » Ký - Phóng sự

Những hy sinh thầm lặng

Thứ bảy 29/12/2018 17:00

Buổi họp mặt truyền thống của Tiểu đoàn Phai Khắt 1, các cựu chiến binh cùng ôn lại kỷ niệm những năm tháng trong quân ngũ. Trong số những cựu chiến binh ấy có một gương mặt luôn kín đáo khi giao tiếp, anh là Đinh Tân.

Chuyện anh từng là cựu chiến binh theo đơn vị hành quân từ Cao Bằng về Phú Thọ thì nhiều người biết nhưng khi hỏi anh biên chế thuộc đại đội nào, nhiệm vụ của anh làm gì thì hầu như không ai hay. Những điều tâm sự của các cựu chiến binh đã gợi cho tôi trí tò mò, rồi cuộc gặp gỡ bất ngờ và thú vị giữa hai chúng tôi đã hé mở điều bí ẩn phần cuộc đời mà anh tâm niệm "sống để dạ, chết mang theo".

Ông Đinh Tân (bên trái) và tác giả.

Ngôi nhà anh Tân nằm ngay bên đường xóm Khau Thúa 2, phường Ngọc Xuân (Thành phố), trước cửa có bày sạp hàng tạp hóa. Trong phòng khách, anh đang tiếp chuyện cùng mấy bạn già, với cử chỉ thân thiện, chân tình, anh mời tôi cùng trò chuyện. Dù đã ở tuổi “chân chậm, mắt mờ” nhưng vẫn giữ nguyên tính cẩn thận trong sinh hoạt và lịch lãm trong giao tiếp. Như đoán được mục đích của cuộc gặp gỡ, anh chủ động dẫn tôi lên trên tầng, nơi có căn phòng riêng luôn mở cửa về mặt sau để mỗi buổi sáng mùa hè đón ánh bình minh thật nhẹ nhõm và yêu đời. Ở đây, anh đã khéo thiết kế hành lang rộng đủ kê bộ bàn ghế để làm việc, tiếp khách và treo nhiều giỏ phong lan, lồng chim cảnh. Tôi có cảm giác thật dễ chịu khi được tận hưởng âm thanh của chim hót, ve kêu và những làn gió mát dịu. Anh lấy cho tôi xem một tập ảnh kỷ niệm rồi chậm rãi kể lại những hồi ức của một thời.       
Anh Tân sinh năm 1940 trong gia đình nông dân nghèo, dân tộc Tày ở xã Hồng Đại (Phục Hòa). Năm 16 tuổi, anh khai tăng thêm 2 tuổi để xin làm công nhân Mỏ thiếc Tĩnh Túc. Vốn là thanh niên tuấn tú, khoẻ mạnh, hoạt bát và chăm chỉ, nên chỉ 3 tháng sau đã được vào biên chế, 6 tháng sau được bổ nhiệm làm tổ trưởng sản xuất. Tháng 3/1963, anh vinh dự được kết nạp Đảng và chỉ 2 tháng sau, Tân lên đường nhập ngũ. Sau khi tham gia khóa huấn luyện tân binh ở Trung đoàn 209, thuộc Sư đoàn 312, anh được cử đi đào tạo nghiệp vụ cơ yếu tại một trung tâm thuộc Bộ Tổng Tham mưu rồi biệt phái sang làm nhiệm vụ theo đoàn thanh tra của Bộ Giao thông - Vận tải. Mùa hè năm 1964, được biệt phái về công tác tại Ban Tổ chức Tỉnh ủy Cao Bằng. Mọi nhiệm vụ và kết quả công việc anh chỉ nhận và báo cáo với người chỉ huy trực tiếp. Ngày 19/5/1965, chỉ huy giao cho anh nhiệm vụ đưa Tiểu đoàn tân binh Phai Khắt từ Cao Bằng về Phú Thọ, sau đó trở về Bộ Tổng Tham mưu, tiếp đến nhận nhiệm vụ tại Trung đoàn tên lửa mặt đất ĐKB thuộc Binh chủng pháo binh.
Tháng 6/1966, Trung đoàn tên lửa mặt đất ĐKB được lệnh hành quân vào chiến trường. Tại Mặt trận M44 - Bộ Tư lệnh tiền phương, anh được lệnh bàn giao công việc ở Trung đoàn để nhận nhiệm vụ đặc trách công tác cơ yếu Mặt trận. Bắt đầu từ đây, anh bước vào cuộc chiến đấu mới đầy gian nan và nguy hiểm vì phải thường xuyên thực hiện nhiệm vụ độc lập. Dòng hồi tưởng về ký ức oanh liệt hiện dần qua từng lời của anh:
- Tôi được giao nhiệm vụ xuống các đơn vị trực thuộc xây dựng mạng lưới thông tin để bảo đảm giữ vững liên lạc giữa Bộ Tư lệnh tiền phương, Quân khu 5 và Mặt trận. Do yếu tố bí mật, kịp thời mà nội dung các văn bản đều phải mã hóa và truyền bằng thông tin vô tuyến. Trước khí thế cách mạng của quần chúng, công tác binh vận và xây dựng lực lượng cơ sở thực sự phát huy được hiệu quả. Ta đã cài cắm được nhiều cơ sở hoạt động trong lòng địch, trong đó có cả những sỹ quan Ngụy quân.

Từ đó, ta có kế hoạch chủ động đối phó với nhiều cuộc càn quét hoặc tấn công trên quy mô lớn của địch. Địa điểm tôi đến thực hiện nhiệm vụ nằm ở vùng đồng bằng, nơi còn đặt dưới sự kiểm soát của địch. Vì lý do an ninh nên suốt ngày tôi phải nằm dưới hầm, chỉ hoạt động được vào ban đêm. Hầm bí mật được xây khá kiên cố ở vùng Gò Nổi, ven sông Thu Bồn, cửa hầm thông ngầm ra sông, mỗi khi ra, vào hầm đều phải lặn nên môi trường trong hầm rất ẩm thấp, thêm vào đó thời tiết nóng của vùng ven biển miền Trung rất khắc nghiệt. Mọi sinh hoạt, ăn uống hoàn toàn dựa vào sự giúp đỡ của cơ sở. Với điều kiện cuộc sống như vậy, sức khỏe của tôi bị suy giảm nhanh chóng. Một lần thấy tôi gầy yếu, cán bộ cơ sở chuẩn bị bữa cơm có nhiều món ngon với mục đích bồi dưỡng sức khỏe. Lúc đang ăn bỗng có một quả đạn pháo của địch xuyên nắp hầm rơi đúng vào mâm làm mất bữa cơm nhưng may là quả pháo xịt mà chúng tôi thoát chết, nhưng từ lần ấy, tai trái của tôi gần như bị điếc.

Trong chiến dịch Tổng tấn công Mậu Thân 1968, tôi tham gia phục vụ công tác chỉ huy quân ta tấn công căn cứ Chu Lai, Quảng Nam và cứ điểm Cấm Dơi ở thung lũng Quế Sơn (Đà Nẵng). Đây là hai căn cứ lớn của quân Mỹ được trang bị rất hiện đại nên ta đã sử dụng cả tên lửa ĐKB để phá huỷ vũ khí, khí tài và giáng đòn tâm lý vào nội bộ địch. Sau chiến dịch, địch thường xuyên tổ chức những cuộc càn quét nhằm bóc gỡ các tổ chức cách mạng. Tôi nhớ mãi trận chiến kéo dài gần tháng trời, quân ta và địch ở thế cài răng lược. Trong trận ấy, tôi bị thương ở đùi, cánh tay, mặt, đầu. Sau một thời gian điều trị tại Viện CK 120, tôi được cử đi làm nhiệm vụ ở một đơn vị thuộc lực lượng quân sự Đà Nẵng.

Thời gian ở đơn vị này, tôi có kỷ niệm không bao giờ quên, đó là lần dịch bức điện của chỉ huy Mặt trận thông báo tin Bác Hồ mất. Tin quá đột ngột đã làm tôi choáng váng, dù cố kìm lòng mình để làm nhiệm vụ mà vẫn nghẹn ngào, nước mắt trào ra, phải 3 lần dịch tôi mới hoàn chỉnh bức điện. Biết tin Bác mất, nét buồn hiện rõ trên từng gương mặt cán bộ, chiến sĩ, rừng Trường Sơn đổ mưa tầm tã suốt ngày. Sau đó, tôi bị ốm nặng, sốt rét ác tính hành hạ liên miên, lở loét toàn thân, tổ chức đưa tôi ra Bắc điều trị. Đến tháng 2/1971, tôi được chuyển ngành về công tác tại Ban Tổ chức Tỉnh ủy Cao Bằng. Năm 1973, học trường Pháp lý rồi về làm công tác pháp chế thuộc UBND tỉnh, năm 1988 chuyển sang làm việc tại Sở Tư pháp và nghỉ hưu năm 1990.
Anh ngừng kể, rót chén nước chè và uống như để thoả cơn khát rồi ngước cặp mắt mệt mỏi sâu thăm thẳm nhìn tôi: - Anh có tin điều này không? Tôi nghĩ là môi trường và hoàn cảnh đã tác động nhiều đến nội tâm. Từ một thanh niên ưa sôi nổi, thích giao lưu, kết bạn nhưng từ khi hoạt động độc lập, đặc biệt là thời gian xuống đồng bằng ven biển miền Trung toàn ở hầm bí mật, ít tiếp xúc đã làm cho tôi trầm tính, không muốn nói nhiều. Yếu tố nữa là từ lần dịch bức điện nhận được tin Bác Hồ mất ấy cũng tác động nhiều đến tâm trạng. Từ lòng kính yêu vô hạn với Bác, tôi đã thề với lòng mình sẽ nguyện suốt đời học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác. Vậy là từ chuyện dịch một bức điện mang dấu ấn lịch sử ấy đã làm tôi thay đổi cả nhận thức và hành động, tự răn mình đừng mắc phải bệnh công thần, kèn cựa địa vị, không ngừng học hỏi, tự lực khắc phục khó khăn trong đời thường.
- Hồi tôi ở chiến trường, tất cả gánh nặng gia đình dồn cả lên vai vợ. Một mình nuôi con, cuộc sống thời bao cấp thiếu thốn đủ bề, vậy mà bà ấy vẫn đủ nghị lực vượt qua.
Vợ anh là chị Vũ Thị My, có dáng hơi đậm và gương mặt phúc hậu. Nghe anh gọi, chị nhẹ nhàng đến ngồi bên:
- Chuyện gian khổ cũng có gì đáng nói đâu chú nhỉ. Thời ấy, thiếu thốn vật chất đã đành, thiếu tình cảm mới cực. Những lúc khó khăn, buồn tủi không có người thân chia sẻ. Chỉ đến khi tổ chức bố trí cả hai người cùng về làm việc ở một nơi thì cuộc sống mới dần ổn định.
Sự hy sinh của cả một quãng đời tuổi xuân, một mình vò võ nuôi con để chồng đi vào chiến trường đánh giặc với niềm tin mong manh chờ ngày sum họp mà chỉ gói gọn trong ngần ấy lời tâm sự. Chị quê ở Nam Định, theo gia đình sinh sống ở Mỏ thiếc Tĩnh Túc rồi lớn lên theo nghiệp bố làm công nhân. Năm 21 tuổi, chị và anh Tân yêu nhau rồi làm lễ cưới, 2 năm sau anh Tân nhập ngũ và vào chiến trường, một mình chị nuôi con. Không chỉ âm thầm chịu đựng trong nỗi cô đơn, buồn tẻ, chị My còn phải đương đầu với búa rìu dư luận khi có tin đồn chồng chị đã đảo ngũ và mất tích. Dẫu vậy, chị vẫn một mực tin ở chồng mình.
Câu chuyện của hai người, hai cảnh ngộ trong cùng một gia đình mà họ kể nghe nó hao hao giống chuyện cổ tích giữa đời thường, vừa giản dị vừa thanh tao. Bây giờ, họ đang có cuộc sống bình dị, hạnh phúc trong một mái ấm gia đình và vẫn luôn khiêm nhường cùng bà con khối phố.
Chuyện của anh Tân đã giúp tôi hé mở góc khuất một cuộc đời đáng trân trọng, tôn vinh. Từ niềm xúc động khi dịch bức điện mang dấu ấn lịch sử mà anh Tân nguyện suốt đời noi theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ kính yêu chính là nguồn động lực thôi thúc tôi viết câu chuyện này. Qua đó, để mọi người hiểu thêm trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, có những chiến sĩ thực hiện nhiệm vụ thầm lặng mà không phải chiến công nào cũng có thể công khai trên diễn đàn, được biểu dương bằng những phần thưởng trao tay. 

Phan Nguyệt

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh