Bạn đang xem: Trang chủ » Ký - Phóng sự

Người lính huyền thoại

Chủ nhật 30/04/2017 08:00

Cuộc kháng chiến giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đã lùi xa vào quá khứ gần nửa vòng thế kỷ, nhưng với Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Thanh Quyết, Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh huyện Phục Hòa, những kỷ niệm nơi chiến trường vẫn mãi in đậm trong tâm trí của người lính đặc công. Với anh, đó là quãng thời gian không thể nào quên để giúp mình có thêm nghị lực vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống.

Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở xã Hồng Định (Quảng Uyên), do chưa đủ tuổi nhập ngũ, anh thoát ly làm công nhân ở Đoàn điều tra quy hoạch lâm nghiệp thuộc Ty Lâm nghiệp Cao Bằng. Tháng 8/1970, anh tình nguyện nhập ngũ và được biên chế vào Đại đội 91, Tiểu đoàn 35, Sư đoàn 305 Đặc công. Sau thời gian huấn luyện ở Bắc Giang đến đầu năm 1971, đơn vị tổ chức cho anh em ăn Tết xong thì được lệnh hành quân vào đóng ở nông trường Quyết Thắng thuộc khu vực Vĩnh Linh (Quảng Trị). Đơn vị phải sinh hoạt trong rừng với nhiệm vụ tổ chức trinh sát và đánh các căn cứ của quân địch đóng trên địa bàn tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế theo lệnh của chỉ huy mặt trận. Thời gian này, các chuyến đi trinh sát căn cứ địch đều phải đi bộ băng rừng vòng qua đất bạn Lào. Mỗi chuyến đi như vậy, người lính phải tự mang đầy đủ tư trang, vũ khí và lương thực phục vụ sinh hoạt. Mục tiêu trinh sát là các sân bay, bến cảng, đồn, bốt, trận địa pháo... của địch.

Đơn vị vừa ổn định được nơi đóng quân một thời gian thì cấp trên lệnh cho đơn vị cử lực lượng đi trinh sát nắm tình hình sân bay Tà Cơn (Quảng Trị) và khẩn trương chuẩn bị kỹ phương án dùng lực lượng với lối đánh kỹ thuật để phá huỷ sân bay này. Đây là sân bay của lính Mỹ nằm gần biên giới với nước bạn Lào. Từ sân bay này, hằng ngày giặc liên tục thực hiện các chuyến do thám khắp tuyến rừng Trường Sơn nhằm phát hiện lực lượng quân đội ta để chỉ điểm cho pháo từ ngoài biển bắn vào. Ngoài ra quân địch từ trên máy bay còn trực tiếp dùng bom, súng máy bắn gây tổn thất nhiều cho lực lượng của ta trên đường hành quân vào Nam. Vì thế việc phá huỷ sân bay Tà Cơn được coi là nhiệm vụ cực kỳ cấp bách.

Một đêm cuối tháng 2/1971, cả trung đội chia làm hai mũi đột nhập sân bay. Đại đội trưởng Trần Văn Giỏi và Phan Thanh Quyết, hai người trực tiếp trinh sát trận địa chịu trách nhiệm dẫn quân tập kích. Trời vừa xẩm tối thì các chiến sỹ đã nằm ém trong bãi lau, sậy ngoài hàng rào sân bay. 8 giờ tối, các chiến sỹ được lệnh kiểm tra lần cuối các thiết bị kỹ thuật, hóa trang rồi lặng lẽ tiến về phía hàng rào thực hiện nhiệm vụ do chỉ huy phân công từ khi nghiên cứu bản đồ và sa bàn. Lợi dụng ánh đèn pha của địch, các chiến sỹ nhẹ nhàng vượt qua phòng tuyến lô cốt bảo vệ vòng ngoài. Vượt qua 15 lớp rào kẽm gai, rào bùng nhùng, hào chống tăng, rào cũi lợn, rào phân khu... rồi tiếp cận các mục tiêu. Trước khi rút quân, các chiến sỹ còn cẩn thận kiểm tra toàn bộ số mìn hẹn giờ đã gài trên các mục tiêu. Khi các chiến sỹ đang vượt qua hàng rào phân khu thì bỗng bị tốp lính ngụy tuần tra phát hiện:

- Việt cộng, chúng mày ơi! Rồi chúng thi nhau xả súng như mưa về phía hàng rào.

Cùng lúc các chiến sỹ nhận được lệnh của Đại đội trưởng Trần Văn Giỏi:

- Tất cả anh em quay lại tấn công. Xung phong.

Theo phương án đã được tính trước, các chiến sỹ đồng loạt quay ngược lại sân bay thực hiện lối đánh bằng xung lực dùng súng bắn thẳng vào mục tiêu kích nổ toàn bộ số mìn đã gài mặc dù chưa đến giờ nổ. Các khối thuốc nổ lần lượt phát nổ theo dây chuyền làm rung chuyển và sáng rực cả một góc trời. Bọn địch thi nhau hô hét chạy lung tung giữa chảo lửa khổng lồ. Quyết ôm khẩu súng AK lăn xuống hào chống tăng. Trong ánh lửa sáng rực trời, anh nhìn rõ xác những chiếc máy bay mà mọi ngày vẫn ngang nhiên bay phành phạch trên bầu trời tác oai, tác quái đang bị bốc cháy ngùn ngụt. Mùi khói bom, đạn. Mùi xăng, dầu cháy khét lẹt cứ phả vào lỗ mũi muốn nghẹt thở. Cả sân bay chìm trong biển lửa khi 8 kho đạn rốc két và kho xăng dầu lần lượt bị kích nổ. Chỉ chừng nửa giờ sau, những tiếng kêu của bọn lính im hẳn, dù biết bọn địch đã chết hết nhưng anh cũng không thể tìm được lối để thoát ra khỏi biển lửa khổng lồ ấy. Bom, đạn vẫn cứ nổ ầm trời. Đất đá vẫn cứ bay mù mịt. Toàn thân anh bỏng rát vì chỉ mặc độc bộ quần áo lót. Hình như mọi sinh vật ở sân bay đều đã bị hủy diệt. Anh nhận ra mình còn sống sót là nhờ đường hào chống tăng, biết không thể ra khỏi sân bay giữa lúc bom đạn vẫn thi nhau nổ nên anh kéo vạt áo lót che mũi rồi nằm thiếp đi lúc nào không hay. Khi tỉnh dậy trời đã sáng hẳn. Trên mặt đất, đạn bom vẫn nổ, khói và đất đá vẫn bay mù mịt. Anh sờ khắp người và thấy mình không bị vết thương nào, duy chỉ có cổ họng thì khô rát. Anh lại tiếp tục nằm ngửa như một xác chết chờ cho qua ngày. Một ngày mà cảm tưởng dài như hằng năm rồi cũng qua đi. Màn đêm dần buông, việc đầu tiên anh nghĩ là đồng đội ai còn, ai mất. Phải mất hàng chục giờ vất vả vật lộn với những đống hàng rào đổ nát trong không gian tĩnh lặng đến ghê người, anh mới thoát ra ngoài về vị trí tập kết bí mật, nơi có giấu sẵn lương khô và nước uống. Nhai miếng lương khô và uống ngụm nước mà miệng cứ đắng ngắt. Nỗi buồn ập đến vì không gặp người đồng đội nào. Linh tính như mách bảo điều chẳng lành đã xảy ra. Giữa chảo lửa khổng lồ ấy, chuyện thoát chết quả là điều hiếm hoi. Nghĩ vậy nhưng anh vẫn tin vào những tia hy vọng mong manh và kiên trì chờ đợi một đêm nữa. Đó cũng là kỷ luật phải thực hiện của chiến sỹ đặc công trong mỗi trận đánh. Gần sáng  hôm sau, anh vui mừng khôn xiết khi thấy một người đồng đội trở về trong trạng thái mệt mỏi và đói lả, đó là Trần Hữu Phú, quê ở Quảng Xương (Thanh Hóa). Hai người cùng nhau chờ thêm ngày nữa, đến khi chắc chắn không còn ai mới tìm đường trở về căn cứ. Trong trận này, cả trung đội tham gia đánh sân bay có 17 người thì hy sinh 15 người. Sân bay Tà Cơn bị phá huỷ hoàn toàn.

Sau trận đánh, Quyết cùng Phú đi bộ luồn rừng ba ngày vòng qua đất Lào mới về đến tiểu đoàn để nghỉ ngơi. Sau thời gian nghỉ được chừng hai tháng lại nhận lệnh vào trinh sát để chuẩn bị tập kích căn cứ Đồng Lâm thuộc địa bàn huyện Hiệp Khánh (Thừa Thiên - Huế). Thời gian này, Bộ Tư lệnh Mặt trận B5 chủ trương đánh mạnh vào các căn cứ lớn của địch nhằm hạn chế ý đồ chặn đường chi viện của quân đội ta vào chiến trường miền Nam. Phan Thanh Quyết với cương vị Trung đội phó cùng Lê Văn Trung, quê Thanh Hóa nhận nhiệm vụ vào trinh sát mục tiêu.

Thủy quân lục chiến Mỹ rút khỏi Khe Sanh ngày 1/7/1968 tại sân bay Tà Cơn.            Ảnh: t.l

Đêm đầu mùa hè mà miền Trung đã nóng hầm hập. Trong màn đêm dày đặc, Quyết và Trung lặng lẽ tiến về căn cứ Đồng Lâm. Với những chiến sỹ dày dạn kinh nghiệm như Quyết và Trung, việc vượt qua tuyến phòng thủ của địch diễn ra suôn sẻ rồi luồn qua 8 lần hàng rào kẽm gai cũng không có gì khó khăn. Theo phương án đã vạch sẵn, hai người thực hiện việc ốp mìn vào các bồn xăng, dầu và kho vũ khí rồi lại lặng lẽ bò ra ngoài gặp nhau ở điểm tập kết cách xa căn cứ chừng hai cây số chờ mìn nổ. Đúng 12 giờ đêm, sáu tiếng nổ long trời đã làm bùng lên tám cột lửa bốc cháy ngùn ngụt sáng rực cả một góc trời. Hai người ôm nhau tận hưởng những phút giây sung sướng của người chiến thắng.

Một thời gian sau, Hiệp định Pa-ri được ký kết. Cả tiểu đoàn 35 được lệnh chuyển ra đóng quân ở huyện Chương Mỹ (Hà Tây). Phan Thanh Quyết vinh dự được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Tháng 4/1973, Quyết chọn đi học Trường Sỹ quan Đặc công. Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, anh lại được chọn đi luyện tập diễu binh chuẩn bị cho lễ kỷ niệm trọng đại 30 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi hoàn toàn vào dịp Quốc khánh mùng 2/9/1975. Phan Thanh Quyết vinh dự là người chiến sỹ trong tổ cờ của đội hình binh chủng đặc công hùng dũng diễu qua Quảng trường Ba Đình (Hà Nội).

Trên mái đầu người chiến sỹ đặc biệt tinh nhuệ năm xưa giờ đã điểm bạc. Gương mặt cũng có nếp nhăn nhưng vẫn toát lên nét cương nghị, rắn rỏi đọng dấu ấn một thời tung hoành ngang dọc với lối đánh “xuất quỷ nhập thần” gây cho quân địch khiếp đảm. Rời chiến trường được hơn 40 năm nhưng ở trong hoàn cảnh nào, Quyết vẫn luôn giữ vững bản chất tốt đẹp của người lính Cụ Hồ. Trong tâm sự, anh vẫn luôn kiệm lời khi nói về mình. Dẫu tuổi đã già, sức đã yếu nhưng lòng nhiệt tình cống hiến và đam mê công việc vẫn níu kéo anh làm lãnh đạo cựu chiến binh. Vì anh luôn tâm niệm “cuộc đời người lính là sự hy sinh, cống hiến hết mình”.
Phan Nguyệt

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh