Bạn đang xem: Trang chủ » Ký - Phóng sự

Người đi qua hai chiến dịch lớn

Chủ nhật 27/08/2017 06:00

Nếu kể những người con của quê hương cội nguồn cách mạng Cao Bằng từng được tham gia Chiến dịch Biên giới hay Chiến dịch Điện Biên Phủ có lẽ không thể đếm được, nhưng người từng được tham gia cả hai chiến dịch, hiện còn sống thì không nhiều. Ông Nông Văn Mão chính là một trong những người thuộc số ít đó mà tôi vinh dự được gặp và nghe kể về những năm tháng hào hùng.

Ông Nông Văn Mão (bên trái) kể lại những ngày tham gia hai chiến dịch lớn trong kháng chiến chống Pháp.
NHỚ MỘT THỜI “TUYẾN LỬA” ĐÔNG KHÊ
Ông Nông Văn Mão ở khu 1, thị trấn Đông Khê (Thạch An), người đã vinh dự được trực tiếp tham gia cả hai chiến dịch lớn nhất trong kháng chiến chống Pháp. Với ông, ký ức về những ngày nhịn đói, nằm sương dọc đường số 4 “rực lửa” hay “khoét núi, ngủ hầm” vùng Tây Bắc cùng đồng đội lập nên những chiến công “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” của gần 70 năm về trước như vẫn còn nguyên vẹn. Trong những ngày tháng Tám này, cũng như bao người con đất Việt cùng nhớ về những ngày đất nước chìm trong bom đạn, sự hy sinh xương máu của ông cha để có hòa bình, độc lập hôm nay, ông Mão lại bồi hồi nhớ những trận chiến ngày ấy của mình.
Năm nay ông Mão tròn 90 tuổi, với 65 năm tuổi Đảng, nhưng vẫn còn khỏe mạnh và minh mẫn. Theo dòng ký ức, ông kể: Tôi nhập ngũ tháng 3/1947, chỉ trước ngày thực dân Pháp tiến công lớn lên căn cứ Việt Bắc (10/1947) 7 tháng, lúc đó tôi vừa tròn 20 tuổi. Tôi được bổ sung vào Đại đội 675, Tiểu đoàn 73, Trung đoàn 74 do đồng chí Chu Huy Mân làm Trung đoàn trưởng. Vừa nhập ngũ được 2 tháng, tôi đã cùng đồng đội hành quân về Ngân Sơn đánh địch tại Lũng Pảng, Ngân Sơn (Bắc Kạn). Trong những ngày Chiến dịch Thu Đông 1947 đang sục sôi và con đường số 4 lúc này đã trở thành con đường “rực lửa” với những trận đánh tập kích của quân và dân ta nhằm ngăn sự tiếp tế của địch lên Cao Bằng thì bên kia biên giới quân Tưởng và bọn phỉ án ngữ dọc giáp ranh gây nhiều tai họa cho nhân dân. Với nhiệm vụ quốc tế cao cả, quân ta đã phái một lực lượng vũ trang sang giúp bạn xây dựng Khu giải phóng ở vùng Ung - Long - Khâm, liền với biên giới nước ta. Tôi và đồng đội đã hành quân sang đánh đồn Thủy Khẩu đối diện với Tà Lùng, Phục Hòa (Cao Bằng). Sau đó đánh trận Nà Hòi, Giả Tống rồi tiến sâu vào thị trấn Long Châu. Quân ta phải mất mấy tháng mới giúp bạn giải phóng được dọc miền biên giới giáp Đông Bắc nước ta.
Trở về nước, ông Mão tiếp tục cùng đồng đội tham gia các trận đánh phục kích trên đường số 4 “rực lửa”. Tháng 10/1949, ông tham gia trận đánh phục kích địch ở đèo Bông Lau, Lũng Phầy (Tràng Định, Lạng Sơn, nơi tiếp giáp với Cao Bằng). Quá trình phục kích, quân ta phải dùng chăn chiên trải xuống để đi, nhằm tránh không để vết chân in trên đất. Trận đánh đó ông và đồng đội phải nhịn đói, nằm sương mất 3 - 4 ngày phục kích trên đồi. Khi quân địch cho hàng đoàn xe, ước tính gần trăm chiếc chở lương thực, thực phẩm, quân trang, quân dụng cùng súng đạn kéo lên và có cả một chiếc máy bay yểm trợ, quân ta từ nhiều hướng trên các đỉnh đồi, núi đồng loạt tấn công. Bị bất ngờ, địch chống trả yếu ớt. Toàn bộ xe địch bị ta bắn phá, ngay cả chiếc máy bay yểm trợ cũng bị ta bắn rơi. Với ông Mão, trận đánh ông nhớ nhất và tự hào nhất chính là trận đánh đồn Đông Khê - trận mở màn cho Chiến dịch Biên giới năm 1950. 
Lúc đầu ta dự định đánh vào Thị xã trước, nên quân ta vẫn tập kết ở Pác Cam (Quảng Uyên) khá nhiều. Sau khi Bộ Chỉ huy thay đổi chiến thuật, đánh đồn Đồng Khê, ông và đồng đội mới hành quân từ Pác Cam về. Để đánh thắng địch trong trận này, Trung ương quyết định điều Trung đoàn 174, Tiểu đoàn 246 (Liên khu Việt Bắc), Tiểu đoàn 11 của Đại đoàn 308, 6 khẩu sơn pháo 75 ly, 4 khẩu ĐKZ 57 chủ động tiến vào Đông Khê theo hướng Bắc và Đông Bắc. Trung đoàn 209 do đồng chí Lê Trọng Tấn chỉ huy tiến vào phía Nam, Tiểu đoàn 178 bố trí 14 khẩu pháo ở phía Đông. Đại đoàn 308 là lực lượng dự bị; mỏm núi đá Pác Phiêng - phía Đông Bắc thị trấn Đông Khê được chọn làm nơi đặt Sở Chỉ huy. Tiểu đoàn 251 do đồng chí Nguyễn Hữu An chỉ huy ở hướng chính diện có nhiệm vụ đánh thẳng lên pháo đài, Tiểu đoàn 249 của đồng chí Lê Hoàn đánh chiếm đồn Yên Ngựa, Cạm Phầy, Phja Khóa. Tiểu đoàn 250 của Khai Tâm làm dự bị, Tiểu đoàn 11 và 426 bố trí ở Nà Cốc chuẩn bị đánh quân nhảy dù. Ông Mão thuộc Đại đội 675, Tiểu đoàn 73, Trung đoàn 174 được bố trí đánh ở hướng bắc. Đúng 18 giờ ngày l5/9/1950, các đơn vị được lệnh của Bộ Chỉ huy mặt trận cho quân tiến sát trận địa theo kế hoạch, 5 giờ ngày 16/9/1950, ta kiểm tra các đơn vị lần cuối. Đúng 6 giờ ngày 16/9/1950 quân ta nổ súng đánh đồn Đông Khê. Đến chiều 17/9/1950, ta chiếm toàn bộ các vị trí ngoại vi và khu trung tâm. Riêng Trung đoàn 174 và Trung đoàn 209 đến 4 giờ 30 ngày 18/9/1950 đã phối hợp đánh chiếm toàn bộ đồn chính. Quân địch bỏ chạy, ta tập trung truy kích bắt toàn bộ chúng ở vùng ngoại vi. Trận đánh đồn Đông Khê kết thúc vào 10 giờ ngày 18/9/1950. Trong trận đánh này đồng đội của ông đã hy sinh và bị thương rất nhiều... Máu đào của các anh hùng, liệt sỹ đã đổ xuống để hoa chiến công nở rực cả một vùng biên giới phía Bắc.
MÃI ÂM VANG TRẬN ĐIỆN BIÊN PHỦ
Chiến dịch Biên giới toàn thắng, ông Mão và đồng đội hân hoan vui mừng và càng sục sôi khí thế đánh địch. Sau đó không lâu, đơn vị ông được lệnh tiếp tục hành quân xuôi về Lạng Sơn. Lúc đó ông và đồng đội không biết sẽ được lên Tây Bắc tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ mà chỉ biết có lệnh đi là đi, miễn sao được đánh địch là vui rồi. Năm 1951, ông được tham gia đánh trận ở Bình Liêu (Quảng Ninh), rồi Uông Bí, Vũ Tướng. Đánh xong, quay về Bắc Giang một thời gian lại đi xuống Hải Dương đánh trận Trạm Chài, đánh địch ở Hưng Yên. Sau đó ông lại quay về Bắc Giang rồi mới hành quân lên Vĩnh Phúc, lên Tây Bắc. Tại đây, năm 1952 ông Mão được tham gia nhiều trận đánh, như: Cửa Nhì, Nghĩa Lộ (Yên Bái), Mộc Châu, Cà Nòi (Sơn La). Vinh dự trong năm này, ông Mão được kết nạp Đảng Cộng sản Việt Nam. Kết nạp Đảng nơi chiến trường không được đầy đủ cờ, hoa nhưng với ông Mão đó là ngày trọng đại, đáng nhớ của đời mình. Vì vậy, trong suốt 65 năm qua ông luôn phấn đấu, rèn luyện để xứng đáng là một đảng viên gương mẫu, một người lính Cụ Hồ mẫu mực.
Năm 1953, ông hành quân về Thanh Hóa, sau đó được lệnh lên Tây Bắc lần hai. Kể cho chúng tôi nghe về ngày lên đường đến Điện Biên Phủ, ông Mão không giấu nổi sự xúc động khi ký ức những lần hành quân và khoét núi, ngủ hầm đầy gian khó dần hiện về nguyên vẹn trong tâm trí ông: Ngày ấy, việc hành quân lên Điện Biên Phủ hết sức bí mật, đêm đi, ngày nghỉ để tránh sự truy sát của địch. Khi lên đến Điện Biên đã là đêm 30 Tết Giáp Ngọ (1954). Cả đơn vị ăn với nhau một bữa cơm tất niên rồi nghe văn công biểu diễn văn nghệ, sau đó cả đơn vị tập hợp chỉnh tề dưới tán lá nứa nghe thủ trưởng phổ biến mệnh lệnh, chúc Tết và bắt tay ngay vào công việc làm đường, đào hầm hào, chuẩn bị công sự. Địch ngày đêm cho máy bay đi rà khắp chiến trường, thả bom liên tục, nhưng cứ tiếng bom vừa dứt, quân ta lại san lấp hố bom làm đường, làm hào ngày đêm không nghỉ, cùng với đó tại các điểm xung quanh Mường Thanh, quân ta liên tục mở các trận tiến công địch, giành giật với địch từng tấc đất, từng đoạn chiến hào. 
Sau nhiều trận đánh vào các cứ điểm ở Điện Biên Phủ, ngày 6/5/1954, quân ta quyết định đánh đồn A1. Quân ta được bố trí dưới chân đồi A1 và xung quanh đó, riêng đơn vị của ông Mão được bố trí ở một mỏm đồi gần A1. Địch từ Hồng Cúm bắn pháo lên, quân ta chống trả quyết liệt và hy sinh rất nhiều. Sau nhiều lần đánh không chiếm được đồi A1, quân ta quyết định đào hầm xuyên qua dưới đồi A1 và đặt một tấn bộc phá. Sau khi tấn bộc phá nổ tung đồi A1 quân ta vẫn đánh cả đêm hôm đó làm cho địch càng thêm hoang mang. Đến sáng 7/5, cả chiến trường loan tin quân ta đã chiếm được đồi A1. Niềm vui thắng trận càng làm cho quân ta khí thế hơn tiến đánh chiếm cầu Mường Thanh. Đến chiều 7/5, tướng Đờ Cát dẫn đầu quân địch ra hàng, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ sụp đổ hoàn toàn. Giây phút nhìn thấy lá cờ Tổ quốc trên nóc hầm tướng Đờ Cát báo hiệu chiến thắng toàn diện, tôi và đồng đội đã nhảy lên mặt đất reo hò nhưng mắt thì rưng rưng nước... Giọng ông Mão chùng xuống: Đánh xong Chiến dịch Điện Biên Phủ, tôi được giao nhiệm vụ ở lại thu dọn chiến trường. Để có chiến thắng vang dội khắp thế giới này quân ta đã hy sinh rất nhiều. 
Sau Chiến dịch Điện Biên Phủ, ông Nông Văn Mão tiếp tục phục vụ trong quân ngũ, đến năm 1960 chuyển ngành và trở về Cao Bằng công tác, năm 1981 ông nghỉ hưu.
Câu chuyện khép lại, chúng tôi ai cũng thấy bồi hồi... 67 năm đã trôi qua, người cựu chiến binh Nông Văn Mão đã trải qua nhiều trận đánh ác liệt luôn tự hào về những gì mình đã đóng góp cho quê hương, đất nước. Còn thế hệ trẻ như chúng tôi sẽ mãi không quên và luôn tự hào về lớp ông cha đi trước, những người đã viết nên trang sử vẻ vang của dân tộc.
Bài và ảnh: Thanh Thúy

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh