Bạn đang xem: Trang chủ » Ký - Phóng sự

Nghĩa tình thầy trò

Thứ năm 29/11/2018 09:00

Tôi có 9 năm giảng dạy tại Trường Trung cấp Nông lâm tỉnh, dĩ nhiên cũng từng trải qua thời học trò. Chặng đường ấy đã cho tôi nhiều kỷ niệm về nhà giáo và được chứng kiến bao câu chuyện về nghĩa tình thầy trò, nhưng câu chuyện về thầy giáo Hoàng Đức Hiền làm tôi xúc động nhất.

Ông Hoàng Đức Hiền kể với tác giả về cuộc gặp gỡ với anh Nông Văn Chương.

Tốt nghiệp loại ưu Trường Sư phạm miền núi Trung ương (Hà Nội) năm 1959, thầy giáo Hoàng Đức Hiền trở về quê hương Cao Bằng. Thầy được Ty Giáo dục phân công về Trường phổ thông cấp I Phong Nặm, xã Phong Nặm (Trùng Khánh), dạy lớp 4, lớp cuối cấp của trường. Thời ấy, tuổi học sinh không đều nhau, đa phần xấp xỉ hoặc ngang tuổi thầy, thậm chí có học sinh hơn cả tuổi thầy giáo.
Bước vào tuổi 21, thầy Hiền có tiếng đẹp trai, hát hay, dạy giỏi, được học sinh yêu quý. Trong lớp có học trò Nông Văn Chương, 19 tuổi, rất mến mộ thầy. Năm 1960, tốt nghiệp lớp 4, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, Chương xung phong lên đường nhập ngũ và vào Nam chiến đấu. Thầy Hiền vẫn mải miết làm người lái đò chở bao lớp học trò qua sông, những niên học sau, thầy được tổ chức phân công về công tác tại Trường phổ thông cấp I Pò Tấu, rồi chuyển về làm Hiệu trưởng Trường phổ thông cấp I Bằng Ca (Hạ Lang) - nơi quê hương yêu dấu của thầy. Đến đâu, thầy cũng được các bậc phụ huynh và học sinh tin yêu. Là người đức độ, giàu lòng nhân ái, có năng lực và xốc vác trong công tác, thầy Hiền trưởng thành nhanh chóng, trải qua nhiều cương vị quan trọng: Trưởng Phòng Tổ chức chính quyền tỉnh, Thư ký Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, Thư ký riêng cho Chủ tịch UBND tỉnh; Chủ tịch UBND, Bí thư Huyện ủy Hạ Lang; Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin. Năm tháng trôi qua, từ nhà giáo trở thành người lãnh đạo cấp huyện, cấp ngành của tỉnh, nhưng thầy Hiền vẫn vậy, trong sáng, mẫu mực, giàu lòng nhân ái, luôn được mọi người quý trọng, yêu mến. Và thầy vẫn luôn nhớ về những người học sinh của mình.
 Quãng thời gian đó, nơi phương xa, học sinh Chương luôn sát cánh cùng đồng đội ngày đêm vượt qua mọi gian khổ, ác liệt, chiến đấu kiên cường trên trận tuyến phía Nam. Năm 1978, do sức khỏe yếu, Chương được ra quân, trở về quê hương. Luôn nhớ thầy và bạn bè, Chương tìm mọi cách liên lạc với thầy, song không biết được thầy ở đâu, cuộc sống ra sao, bởi trong hồ sơ lý lịch của thầy Hiền ghi: Họ và tên khai sinh Hoàng Văn Ránh, họ và tên thường dùng là Hoàng Đức Hiền. Thầy về công tác tại trường Phong Nặm mới được một năm, nên chưa lúc nào bộc bạch tâm sự cùng các trò trong lớp. Hơn nữa, khi có quyết định về Phong Nặm thầy mang tên Hoàng Văn Ránh. Vì thế, anh Chương và bạn bè cùng các bậc phụ huynh lúc ấy chỉ biết đến thầy Ránh mà thôi. Khi chuyển công tác về Bằng Ca, quyết định của trên lấy tên Hoàng Đức Hiền, từ đó ai cũng gọi thầy Hiền. Mọi cuộc kiếm tìm của anh Chương là tìm người thầy có tên là Ránh nên dù khoảng cách địa lý không quá xa, nhưng không thể tìm ra người thầy của mình.
Thời gian thấm thoát thoi đưa, từ cương vị Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin, năm 2001, thầy Hiền về nghỉ hưu tại thị xã Cao Bằng. Tuy vậy, thầy vẫn đau đáu với sự nghiệp văn hóa. Khi nghe tin tại xã Phong Nặm có tác phẩm lượn then về nàng Tô Thị, vốn là người say mê và giỏi hát lượn Tày, hơn nữa muốn tìm hiểu về nàng Tô Thị, quê Bản Lung, xã Đồng Loan (Hạ Lang), ngày 30/4/2011, thầy Hiền đi xe máy về lại Phong Nặm sau hơn 50 năm. Tại đây, thầy gặp được ông Nông Văn Khoát là chú của anh Chương (lúc ấy anh Chương vắng nhà). Thầy hỏi qua nhiều người, nhưng kết cục không tìm được tác phẩm đó. Sau đó, thầy trở ra Thị xã. Vài ngày sau, khi được chú của mình kể lại câu chuyện đã gặp thầy Ránh (Hiền), anh Chương phấn khởi và xúc động viết ngay lá thư bằng thơ gửi thầy sau hơn 33 năm tìm kiếm. Lá thư có đoạn thơ: “Riệc thầy là tảo lỵ slư tha/Pi bươn bấu cheng xa căn lẳm/Thầy mà trường Phong Nặm bấu hâng/Dòm sle hâử mọi cần điếp chứ/Phjạc căn pây cách xử khau phja/Bấu ngờ thầy hòi mà chốn nẩy” Tạm dịch: Gọi thầy là đạo lý nhân văn/Tuổi tác không chênh nhau là mấy/Thầy về trường Phong Nặm không lâu/Dành để cho mọi người thương nhớ/Chia tay nhau cách trở núi non/Không ngờ thầy lại về chốn ấy... Với người thầy luôn là niềm kính yêu da diết, anh viết: Tình thầy trò bấu lẻ rắc vằn/Chất slíp pi slắng căn pày nhỉ/Pày tải ết dú tỉ Thôm Thàn/Tồng báo slao háng toan hẹn ước/Pày nhỉ slắng rèo moỏc rèo lồm/Vảng cạ mền bấu thâng da lá. Tạm dịch: Tình thầy trò không lẻ ngày nào/Bảy mươi năm dặn nhau lần hai/Lần thứ nhất ở nơi Thôm Thàn/Như trai gái chợ tình hẹn ước/Lần hai nhắn theo gió theo sương/Nếu không đến được thì đành vậy.

2 bài thơ học trò Nông Văn Chương viết gửi tặng thầy Hiền.

Anh Chương viết lá thư tự sự bằng thơ này lúc đã 70 tuổi đời, sức khỏe rất yếu. Bài thơ có lúc bị ngắt quãng bởi bệnh tật sốt rét chiến trường tái phát hoành hành, phải nhờ đến chú Khoát chép hộ. Như thấu cảm với tâm tư, nguyện vọng của anh, cuối năm 2011, chú Khoát đã chủ động đưa anh đến gặp thầy Hiền tại thị xã Cao Bằng, họ mừng vui hoan hỷ trong ngày hội ngộ để bõ những tháng năm xa cách và chính anh đã tự tay trao tặng lá thư với 45 câu thơ cho thầy trong nỗi xúc động đến nghẹn lòng. Tính từ khi lên đường nhập ngũ, sau 51 năm anh Chương mới gặp lại người thầy của mình. Ngồi bên nhau, thầy và trò tóc đã bạc trắng như mây trời.
Từ ấy, tình thầy trò càng mặn mà hơn, hai người thường trông ngóng, thăm hỏi nhau qua nhiều kênh thông tin và mong sao cuộc sống luôn an lành. Năm 2012, vào dịp Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, thầy Hiền lại nhận được bức thư bằng một bài thơ gồm 68 câu của anh Chương qua đường bưu điện. Thầy xúc động, tự hào về người học trò của mình. Bài thơ có đoạn nhắc đến những lời thầy dạy về đạo đức con người, trọng nghĩa tình: Thầy slon noọng hứ đảy cần đây/Hất cần kin dú ngày thật thá/Đây mạy nhằng đây qua nặm sơn/… Khấu bâu giác tọ giác nghịa tình Tạm dịch: Thầy dạy em trở thành người tốt/Làm người ăn ở cho thật thà/Tốt gỗ còn hơn tốt nước sơn… Không đói cơm nhưng khát nghĩa tình. Anh Chương khẳng định tình thầy trò sâu nặng, sắt son thủy chung, ngay cả khi không còn trên đời, về thế giới bên kia vẫn là thầy, trò như xưa: Tình thầy trò tốc nắc hơn phja… Dúc lừ lồng pây đuối Long Vương/Thầy slon trò văn chương pền phửa Tạm dịch: Tình thầy trò sâu nặng hơn núi… Nay mai đi về với Long Vương/Thầy dạy trò văn chương như xưa. Mới có một năm học được thầy Hiền dạy mà anh Chương đã thấm đậm câu “Nhất tự vi sư/Bán tự vi sư”. Điều ấy cũng đủ để nói lên thầy Hiền là người như thế nào.
Qua những vần thơ cháy bỏng, toát lên nghĩa tình thầy trò của các bậc lão niên. Giờ đây, anh Chương đã thành cụ ông 80 tuổi, ấy vậy mà tâm hồn vẫn như ngày nào là người học trò nhỏ của thầy Hiền. Những điều tâm sự từ đáy lòng ấy của người học trò hiếu đạo Nông Văn Chương mang đầy giá trị nhân văn, đạo lý thầy - trò, bài học sâu sắc đến ngày nay và mai sau.

Lê Chí Thanh

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh