Bạn đang xem: Trang chủ » Ký - Phóng sự

Lắng đọng hồi ức Điện Biên

Thứ tư 06/05/2020 06:00

Hằng năm, cứ mỗi dịp kỷ niệm Chiến thắng Điện Biên Phủ thì tôi lại khắc khoải muốn tìm đến vùng di tích lịch sử này để chiêm ngưỡng sự đổi thay của vùng quê miền núi và mong mỏi tìm dấu tích một thời của những chiến binh quê Cao Bằng đã đổ mồ hôi, xương máu cho chiến thắng quan trọng tạo dấu mốc lịch sử của dân tộc. Bước vào năm 2020, tôi hành trình về Điện Biên với mục đích trải nghiệm như chuyến đi du lịch về với cội nguồn.

Hố bộc phá trên đồi A1, Điện Biên Phủ.

Phải mất hai ngày, chúng tôi mới đến thành phố Điện Biên, người dẫn tôi đi tham quan là Đại tá Nguyễn Văn Đề đang công tác tại Công an tỉnh Điên Biên. Nơi đầu tiên tôi đến là cứ điểm đồi A1. Leo lên ngọn đồi không cao lắm nhưng đủ để nhìn rõ cánh đồng Điện Biên rộng mênh mông. Quân Pháp coi cứ điểm A1 có vị trí đặc biệt quan trọng án ngữ toàn bộ mặt trận phía Đông nên đã đầu tư xây dựng hệ thống hầm ngầm, lô cốt kiên cố và tăng cường cho cứ điểm lực lượng tinh nhuệ nhất. Chính vì vậy mà quân ta mở nhiều đợt tấn công vẫn không chiếm được cứ điểm này. Cuối cùng chỉ huy chiến dịch phải sử dụng lực lượng công binh đào hầm ngầm để đưa một tấn thuốc nổ vào kích nổ làm rung chuyển cả quả đồi. Quân ta tạo được cửa mở cho đại quân tiến vào giải phóng Mường Thanh.

Đến thắp hương viếng các liệt sĩ ở nghĩa trang dưới chân đồi A1, tôi không khỏi bùi ngùi, xúc động khi thấy hầu hết phần mộ các liệt sĩ còn vô danh. Duy chỉ có 4 liệt sĩ: Trần Can, Phan Đình Giót, Tô Vĩnh Diện và người con của quê hương Cao Bằng Bế Văn Đàn là được ghi rõ họ, tên.
Thăm Bảo tàng Điện Biên, tôi được cô hướng dẫn viên giới thiệu tỉ mỉ quá trình diễn biến của chiến dịch trong suốt 56 ngày đêm. Được tận mắt xem những hiện vật của cuộc chiến đấu, tôi hiểu thêm về sự hy sinh gian khổ của những chiến sĩ tham gia Chiến dịch Điện Biên năm xưa.

Bên căn hầm của viên tướng chỉ huy quân đội Pháp Christian de Castries ở cuối sân bay Mường Thanh, tôi tình cờ gặp đoàn cựu chiến binh Hà Nội. Những cựu chiến binh đã ở tuổi xưa nay hiếm nhưng họ vẫn say sưa đi tham quan như muốn tìm lại những dấu tích cách đây hơn nửa thế kỷ. Họ vui vẻ cùng nhau ôn lại kỷ niệm của thời gian khổ nơi chiến trường ác liệt. Trong ánh mắt họ, hầu như ai cũng nhận ra sau những xúc cảm trào dâng của nghĩa tình đồng đội là sự bịn rịn, lưu luyến... Ngắm những người lính già trong bộ quân phục ngực lấp lánh huân, huy chương hăm hở thăm lại chiến trường, tôi càng hiểu và trân trọng những cống hiến, hy sinh của cựu chiến binh mà ước mơ của họ thật giản dị: được cùng đồng đội trở lại thăm chiến trường xưa.

Vượt chặng đường bốn chục cây số, tôi đến đại bản doanh Sở chỉ huy ở Mường Phăng - nơi Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng lực lượng tham mưu làm việc trong suốt thời gian diễn ra chiến dịch. Con đường dẫn vào trung tâm chỉ huy được tu sửa cho du khách đi lại thuận lợi hơn. Những căn hầm, lán trại được tôn tạo bằng loại vật liệu có độ bền cao hơn nhưng còn giữ được nét hoang sơ giữa cánh rừng nguyên sinh.

Tượng đài Chiến thắng Điện Biên Phủ tại thành phố Điện Biên Phủ (Điện Biên).

Tôi dành trọn thời gian buổi chiều để chiêm ngưỡng Tượng đài Chiến thắng Điện Biên. Đây là tượng đúc bằng đồng lớn nhất được hoàn thành nhân dịp kỷ niệm lần thứ 50 Ngày Giải phóng Điện Biên. Tượng đồng có chiều cao 13,25 mét, xây dựng trên đồi cao nên từ xa và bất kỳ ở vị trí nào giữa lòng chảo Điện Biên, du khách cũng có thể nhìn rõ pho tượng sừng sững in trên nền trời. Trong dịp kỷ niệm lần thứ 55 này, Nhà nước đầu tư xây dựng thêm nhiều bức phù điêu, trong đó có bức phù điêu đá lớn nhất, biểu tượng về lòng dũng cảm, tình yêu quê hương, đất nước và ý chí quyết thắng kẻ thù của người chiến sĩ Điện Biên.

Đứng bên tượng đài, tôi choáng ngợp trước sự phát triển với tốc độ nhanh của một thành phố vùng cao mà hội tụ đủ cả nét hiện đại, văn minh và còn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc. Sau ngày giải phóng, lòng chảo Điện Biên trở thành vựa lúa của cả vùng Tây Bắc. Gạo Điện Biên nổi tiếng thơm, ngon đã trở thành hàng hóa chuyển về xuôi. Nhờ có tầm nhìn chiến lược của lãnh đạo tỉnh mà Điện Biên đã có quy hoạch tổng thể cho kiến trúc đô thị, phát triển kinh tế nông nghiệp và khai thác tiềm năng du lịch. Cuối năm 2003, Điện Biên được nâng lên thành đô thị loại 3. Sân bay Mường Thanh trải dài bên bờ sông Nậm Rốm nằm kề bên thành phố Điện Biên càng tạo thêm nét đẹp huyền ảo của đô thị vùng cao đang hằng ngày, hằng giờ vẫy gọi du khách.

Đêm cuối mùa xuân ở thành phố vùng cao thật yên tĩnh. Trong nhà khách của Công an tỉnh Điện Biên đã phải dùng máy lạnh để chống cái nóng hầm hập của vùng lòng chảo chịu ảnh hưởng của gió Lào. Sau một ngày đi tham quan các di tích lịch sử mà tôi cảm nhận trên mảnh đất này cũng đã có cả xương máu, mồ hôi, nước mắt của những người con các dân tộc Cao Bằng đóng góp cho cuộc chiến đấu giành thắng lợi. Được chứng kiến phong cảnh và con người vùng quê có sự đổi mới từng ngày mà tôi chợt nhớ về những cựu chiến binh đã trực tiếp tham gia giải phóng Điện Biên. Hình ảnh về những cuộc gặp gỡ, tiếp xúc xưa cứ hiện về trong trí nhớ.

Ấn tượng nhất là cuộc gặp Đại tá Nguyễn Thiện Tứ, xóm Nà Vài, xã Bế Triều (Hòa An), cách đây hơn chục năm. Căn nhà của ông khá khang trang nằm giữa bốn bề là vườn cây ăn quả và ao cá. Ngắm cơ ngơi của ông, tôi hiểu vị sĩ quan từng trải qua hai cuộc kháng chiến này có đầu óc trong lĩnh vực phát triển kinh tế. Tuy mái tóc đã bạc nhưng ông còn khá nhanh nhẹn, hoạt bát; trí nhớ ông vẫn minh mẫn. Trước khi bắt đầu câu chuyện, ông đưa cho tôi xem mấy tập bản thảo được đánh vi tính và đóng bìa cẩn thận. Trong đó có một tập thơ bằng tiếng Tày, tập bản thảo nghiên cứu văn nghệ dân gian và cả tập tài liệu quý có giá trị về lịch sử. Niềm đam mê lao động nghệ thuật giúp ông lưu giữ nguyên vẹn kỷ niệm của những năm tháng trong cuộc đời binh nghiệp:

- Tôi nhập ngũ tháng 3/1945, lúc đó vừa tròn 23 tuổi. Tháng 7/1947 được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1948 được bổ nhiệm làm Chính trị viên Đại đội 398; năm 1950 làm Chính trị viên Đại đội 673 thuộc Trung đoàn 174. Sau khi tham gia Chiến dịch Biên giới 1950, tôi được cử sang học Trường Sĩ quan lục quân (Trung Quốc). Tháng Giêng năm 1954 tôi cùng sáu người khác của trường được điều động về tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong số đó hiện còn sống ở Cao Bằng, tôi biết có Đại tá Hoàng Cao Ngôn, ở phường Đề Thám (Thành phố); Thiếu tá Nguyễn Văn Ngoan, hiện trú tại thị trấn Nguyên Bình (Nguyên Bình). Tôi được giao nhiệm vụ làm phái viên đốc chiến thuộc Sư đoàn Bộ binh 308; Hoàng Cao Ngôn làm phái viên đốc chiến thuộc Sư đoàn 312; Nguyễn Văn Ngoan làm Trung đội trưởng tham gia đánh cứ điểm đồi A1.

Đơn vị của tôi có nhiệm vụ phá phòng tuyến Nậm U ở Bắc Lào sau đó đánh đồn Nà Noọng. Đến ngày 7/5/1954 phối hợp cùng các cánh quân khác đánh chiếm Sở chỉ huy của địch ở Mường Thanh. Sau giải phóng Điện Biên, tôi lại trở về Trường Sĩ quan lục quân làm cán bộ khung. Năm 1967 về Bộ Tổng Tham mưu làm Trợ lý điều lệnh. Sau đó về Sư đoàn 304 để huấn luyện tân binh cho chiến trường miền Nam. Năm 1972 tôi được thăng cấp hàm Trung tá làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 102 thuộc Sư đoàn 308b vào chiến đấu ở chiến trường Khe Sanh, Quảng Trị. Năm 1973 được điều về làm phái viên Tổng Thanh tra Bộ Quốc phòng, đến năm 1982 nghỉ hưu.

Trên đường đến nhà Đại tá Hoàng Cao Ngôn, xóm Bản Lằng, phường Đề Thám (Thành phố), tôi gặp những cử chỉ tận tình của người dân mỗi khi dừng lại hỏi đường, ai cũng tỏ thái độ kính trọng và khen ông là một cán bộ lão thành có đức độ. Qua câu chuyện trao đổi với ông, tôi mới biết ông vừa trải qua cơn tai biến mạch máu não nên trí nhớ đã giảm nhiều. Hỏi về những kỷ niệm xưa, ông phải cố gắng lắm mới kể được vài câu chuyện: Sinh ra ở vùng quê có truyền thống cách mạng, lớn lên tôi gia nhập Thanh niên Cứu quốc.

Tháng 11/1944 được kết nạp Đảng; năm 1945 gia nhập quân đội sau đó được học Trường Sĩ quan lục quân (Trung Quốc). Tôi cùng ông Nguyễn Thiện Tứ về tham gia Chiến dịch Điện Biên năm 1954 với nhiệm vụ làm phái viên đốc chiến thuộc Sư đoàn 312. Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ tôi được điều đi làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn dù rồi sang quân tình nguyện Lào. Từ năm 1976 về làm Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Cao Bằng, đến năm 1980 nghỉ hưu và tiếp tục làm hai khóa Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh Cao Bằng.

Vừa kể, ông vừa cho tôi xem những phần thưởng, kỷ vật thời quá khứ oanh liệt của mình. Trên tường nhà ông trang trọng treo đủ Huân chương Độc lập hạng Nhì; Huân chương Quân công hạng Nhì; Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng; Huân chương Hữu nghị của lãnh đạo nước Lào tặng… Mặc dù đã bước vào tuổi xưa nay hiếm nhưng trên gương mặt ông luôn biểu lộ niềm tự hào về một chặng đường đời quá khứ rất vẻ vang.

Tiếp tôi trong căn nhà cấp bốn ở tổ dân phố 2, thị trấn Nguyên Bình (Nguyên Bình), Thiếu tá Nguyễn Văn Ngoan cùng vợ là Chu Thị Đan vui vẻ pha nước. Dù đã ở độ tuổi ngoài tám mươi mà ông Ngoan vẫn phong độ, da dẻ hồng hào, nói năng hoạt bát. Ông vui vẻ kể về những kỷ niệm xưa: Tôi nhập ngũ năm 1945 và cùng ông Tứ sang Trung Quốc học Trường Sĩ quan lục quân. Khi trở về tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ tôi làm Trung đội trưởng Đại đội 317, Trung đoàn 174.

Vào một đêm tháng Tư, trung đội do tôi chỉ huy được biên chế trong đội hình tấn công đánh chiếm cứ điểm đồi A1. Đơn vị tôi lợi dụng địa hình và đêm tối tiến được đến lưng chừng đồi thì bất ngờ bị hỏa lực của địch từ trong lô cốt xả súng như trút mưa đạn. Trong ánh chớp lửa đạn, tôi nhận ra bộ đội ta hy sinh rất nhiều. Mấy lần tổ chức tấn công đều bị hỏa lực của địch chặn lại. Tôi ngất đi vì bị thương vào đầu. Những ngày điều trị ở trạm y tế tiền phương, tôi cũng không biết đồng đội của mình ai còn, ai mất.

Được ra viện thì Điện Biên đã giải phóng, tôi được bổ nhiệm làm đại đội trưởng chỉ huy dẫn giải tù binh Pháp đi bộ từ Điện Biên về Thanh Hóa. Nhiệm vụ dẫn giải tù binh cũng gian khổ không kém gì chiến đấu vì trong số 11.721 tù binh bị bắt có tới 4.436 tên bị thương. Sau Chiến dịch Điện Biên Phủ, tôi lại đi học và được điều về làm trung đoàn trưởng ở đảo Cô Tô; đến năm 1973 nghỉ hưu .

Cùng với thời gian và quy luật sinh tồn, tất cả những nhân vật ấy đã đi vào cõi vĩnh hằng. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Cao Bằng có hàng nghìn con em tham gia trong các lực lượng quân đội, dân công hỏa tuyến…, trong đó có nhiều người đã hy sinh nơi chiến trường. Có người được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân như: Phùng Văn Khầu, liệt sĩ Bế Văn Đàn… Có người trở thành tướng lĩnh trong quân đội: Đàm Quang Trung, Lê Quảng Ba, Đoàn Nam Long, Lê Thùy, Chu Phương Đới, Thái Dũng… Dù mỗi người có sự cống hiến khác nhau nhưng họ đều có chung niềm tự hào đó là đóng góp cho Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.

Phan Nguyệt

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh