Bạn đang xem: Trang chủ » Ký - Phóng sự

“Hồn chữ” Y Phương

Thứ bảy 12/01/2019 07:00

Một kỷ niệm khó quên khi gặp nhà thơ Y Phương dịp kỷ niệm 45 năm thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, thấy anh nói cười hể hả, nhất là khi biết anh vừa "xuống núi", nhận công tác ở Ban sáng tác Hội Nhà văn Việt Nam, ký ức của tôi bỗng da diết ngược về một thuở Cao Bằng - nơi anh gắn bó và miệt mài chắp cánh cho “hồn chữ”.

 

Nhà thơ Y Phương tự giới thiệu về quê mình: Bước đá/Bước mây/Bước mùa đông/Bước mùa hè/Cây đàn tính dây trong dây đục... Hoa cháy đỏ miền rừng Phja bjoóc/Dòng Khuổi Slao con gái tắm cùng trăng.
Miền quê ấy trong thơ anh thật đẹp, thật hiếu khách, thật phóng túng kiểu vùng cao: Lên Cao Bằng xin đừng làm lạ/Mời rượu cả chum mời quả cả cây... Đi qua bản không vào nhà là người già trách đấy/Tết tháng Giêng hẹn từ tháng Bảy/Tin nhau không nói nhiều lời. (Lên Cao Bằng)
Anh tự giới thiệu về mình trong trường ca "Chín tháng": Tôi/Trán dô/Mũi thô/Môi dày/Chân đi dép bốn hai vẫn thừa năm ngón...
Ai đó viết thế thì dễ được coi là cường điệu, nhưng với Y Phương, dẫu biết anh đã nói quá lên, người đọc vẫn nhận thấy trong đó một chất giọng chân thành! Sở dĩ nói vậy bởi trong thơ, anh đã không ít lần găm vào trí nhớ người đọc những "tiền giả định" đáng tin cậy làm "khế ước" cho điều đó. Nhiều người thích những câu thơ này của anh: Nhà em tận miền Đông/Nhà anh mãi miền Tây/Từ anh sang em/Đi hỏng đôi giày. (Đi tìm)
Chẳng mấy ai để ý đấy là loại giày gì, nhưng lại rất ấn tượng về cái khoảng cách Từ anh sang em không thể đếm bằng bao quả núi, không thể đếm qua mấy con khe, không thể tính theo khoảng cách đường chim bay hay số ngày cuốc bộ ấy. "Đơn vị tính" Đi hỏng đôi giày có lẽ ngành khoa học đo lường chưa từng công nhận, nên cũng có thể tạm gọi đây là hệ đo kiểu Y Phương. Cố nhiên, đấy là cách tính của thơ, cũng như định nghĩa "Mùa hoa", anh viết: Mùa hoa/Người đàn bà/Mặt đỏ phừng/Đủ sức vác ông chồng/Chạy phăm phăm/Lên núi. Mùa hoa/Người đàn ông/Mệt như chiếc áo rũ/Vừa vịn rào đi vừa ngái ngủ.
Viết về mùa hoa mà đâu thấy bóng dáng một loài hoa, đến một bông hoa cũng không có nốt! Mùa hoa, mùa xuân, tuổi xuân hay sức xuân mãnh liệt? Rất nhiều tưng bừng tiềm tàng sau lời kể xen trong lời tả làm cho bài thơ có vẻ đẹp ý nhị và sâu sắc bởi cái tứ được xác lập kín đáo trên cơ sở chuyển nghĩa giữa tiêu đề và sự phát triển nội tuyến song hành những yếu tố liên hợp của chỉnh thể biểu tượng.
Y Phương triệt để khai thác những khả năng tạo nghĩa của cấu trúc ngôn từ, miễn sao lời ăn tiếng nói đời thường trở nên hồn vía. Chẳng hạn: về hành tung của sông Hồng, anh cảm nhận bằng phép nhân hoá rất tự nhiên: Em vỗ đến chân trời xa tắp/Em vừa đi vừa sinh ra đất. Diễn tả hiện tượng sông Hồng bồi đắp phù sa như thế vừa thật vừa gợi đến bất ngờ. Với một người bạn Tuổi ba mươi vẫn gái - Một mình, anh mua nón làm quà mà khi trao tặng bỗng lặng người suy ngẫm: Chưa có quai Biết đội/Hay cầm. (Nón mùa thu)
Dân gian nói: "Chòng chành như nón không quai - Như thuyền không lái như ai không chồng". Cứ ngỡ vui vì tặng được bạn một món quà nhỏ, mà tặng xong lại thấy áy náy thế nào! Một chiếc nón nặng trĩu tâm tình của cả người tặng và người được tặng, đã trở thành một chiếc nón "nỗi niềm", "thân phận". Hoặc một trường hợp khác, anh viết về tâm trạng của người con trai khi yêu: Vàng bạc với đá quý/Anh cất vào trong rương hòm khóa kỹ/Nhưng em, anh biết cất giấu vào đâu/Thôi đành - Nuốt em vào trong bụng. (Cất giấu)
Đã có không ít câu thơ hay về đất nước, nhưng khi nghe Y Phương cắt nghĩa: Âm ấm một bên vú phì nhiêu - Đất/Nong nóng một bên vú mọng căng - Nước/Đất Nước sinh ra từ ngực người đàn bà (Chín tháng) vẫn thấy anh góp được cho thi ca một tiếng nói rất riêng: cội nguồn đất nước gắn liền với sự hóa thân vĩ đại và thiêng liêng của tượng hình người mẹ. Trường hợp khác, sau kỳ nghỉ tết, các con lần lượt đi trả phép, anh viết về sự trống trải, vắng lặng đến tê tái: Gió, lửa, than, nắng/Thi nhau rét. (Vắng con)
Đến cả những thứ dường như sinh ra đã mang thuộc tính nóng cũng thi nhau rét, hỏi còn có gì lạnh hơn? Còn đây là vẻ đẹp mát dịu, mịn màng, tinh khiết của làn da một cô gái: Khi mặt trăng lặn/Nó thoát vào da thịt em. (Da thịt em)
Nhà thơ dùng chữ "thoát" thật tự nhiên, nhưng ý nghĩa thật huyền ảo! Nhìn chung, thơ Y Phương kiệm lời (thậm chí rất kiệm lời như thế) mà thật hàm súc: Anh đi không vung tay/Cởi áo vắt vai/Phăm phăm bước. (Đi tìm)
Lẽ thường, đi không vung tay phải đi chậm, đây lại phăm phăm bước, thật không dễ hình dung. Thơ Y Phương có khi thể hiện sức nén căng của chữ nghĩa: Có người đàn bà bị phụ tình/Không kể ai biết/Cả chính mình.
Người bị phụ tình thường khó giấu, giấu người khác đã khó, giấu chính mình còn khó gấp nhiều lần. Biết bao giông bão trong những con chữ có bề ngoài bình lặng.
Không chỉ ý tại ngôn ngoại, anh còn sáng tạo ra những từ ngữ, hình ảnh so sánh ẩn dụ thực sự độc đáo. Đó là hình ảnh một em bé: ngấu nghiến ăn - nừng nực nuốt (nừng nực chứ không phải ừng ực; nừng nực cũng là nội động từ, nhưng miêu tả động thái nuốt nguồn sữa liên tục khi em bé bú mẹ). Đó là hình ảnh các ông bà già miền núi: phì phà cười như lửa (phì phà chứ không phải hì hà, phì phà thể hiện âm vực tiếng cười của người có tuổi, cũng có nét nghĩa tiếng cười lẫn tiếng lửa reo). Đó là hình ảnh: Chợ Lồng Tổng/người đông/người nhiều/người dài. Hay hình ảnh: Cháu bé vừa đầy tháng - non nỏn như vành trăng... Có thể nói: các chữ nừng nực, phì phà, người dài, non nỏn trong các câu thơ trên; hoặc chữ khe khẽ rất tinh tế trong câu thơ Cỏ lấp lánh - Khe khẽ ướt, sự hợp nghĩa tài tình giữa các chữ long lanh hoi hoi trong câu thơ Tiếng trẻ trâu long lanh hoi hoi như đồng cỏ là những gợi ý thú vị đối với các nhà nghiên cứu từ vựng, phong cách, ngôn ngữ học.
Y Phương không thiên về thơ lục bát. Tuyển thơ Y Phương (NXB Hội Nhà văn, 2002) gồm một trường ca và 113 bài thơ chỉ có vài bài lục bát (mà tất cả đều là "lục bát biến thể"). Bài Tên em là sông anh viết trong ngày thi vào Trường Viết văn Nguyễn Du (1982). Người ta đi thi thường hồi hộp, lo lắng chuyện bài vở, nhưng chàng trai trong bài thơ lại hồi hộp vì một... cái tên bạn gái! Không biết có phải vì vừa gặp, và cũng chỉ là những dạt dào chộn rộn "đầu mày cuối mắt" chưa đâu vào đâu mà anh mới để bài thơ "biến thể" và ngắt dòng theo đồ hình tự do: Tên em là sông/Dòng sông nhỏ chảy quanh đồng của anh/Dòng sông vừa trắng vừa xanh/Tên em là bến/Cho anh đợi đò?
"Tên em là sông" - câu thơ ngắn gọn, bất chấp sự thiếu hụt khuôn âm (lục) để xác định "đối tượng" của mình. Bài Lời ru (1986) anh kể lại những hoài niệm đau đáu về người bà. Như những tiếng nấc ngắt quãng, tâm trạng ăn năn của người cháu đã tạo nên hiệu quả biểu niệm của câu lục bát biến thể: Bà ru/Tôi không ngủ/Nằm nghe/Tiếng ru hóm hém/Lập lòe/Bà trông.
Ba chữ "Tôi không ngủ" như thể trồi ra trong khuôn âm lục bát, có tác dụng nhấn mạnh, cuốn hút sự chú ý về phía chủ thể (trong khi mạch chính của bài thơ là hướng về đối tượng: người bà). Một kỷ niệm ấu thơ, bà ru trưa không chịu ngủ (hay không ngủ được vì mải ngẫm nghĩ về bà) mà tập trung để ý vào sắc thái tiếng ru và hình dung sự quan sát của bà. Mạch thơ của Y Phương thường được cắt ra như thế, chỉ một hoặc vài chữ một dòng, dài ngắn trải ra không đều (đọc tuyển thơ kể trên, chỉ thấy đúng một lần anh viết dòng thơ 12 chữ, trong khi đó có rất nhiều dòng một chữ). Nhìn khối chữ nhấp nhô, trồi thụt dễ liên tưởng đến mấy câu trong bài thơ Thắng cố và thổ cẩm với đề từ E Sun gửi Y Phương của nhà thơ Lò Ngân Sủn: Có người bảo/Thơ mày/Như thổ cẩm/Lượn muôn sắc hoa văn/Phăm phăm/Đèo dốc.
Điều đó đối với Y Phương đúng cả ở nghĩa đen và nghĩa bóng. Thơ Y Phương đậm đà chất liệu và hương sắc vùng cao, ý thơ khoáng đạt và biến hóa bất ngờ. Anh sở trường diễn đạt những dòng thơ ngắn, thậm chí có những bài cũng rất ngắn. Các bài Con hổ, Con người, Người đàn bà,... gồm có ba dòng; cá biệt bài Chén nước gồm mười chữ, duỗi hết cỡ cũng chỉ đúng hai dòng: Anh biết mình như chén nước/Chớ rót đầy.
Bài thơ cô đúc như một triết lí. Triết lí tưởng chừng giản đơn thế nhưng thấp thoáng phía sau của hai dòng chữ ấy là ngổn ngang nỗi đời từng trải. Cũng theo mạch này, nhiều người yêu thích bài "Phố xưa" của anh thật có lý: Phố xưa/Bây giờ cũng như xưa/Những mái nhà nâu/Những cột nhà đen/Đêm đêm lép bép ngọn đèn...
Thủng thẳng, kiệm lời. "Độ dôi" của ngữ nghĩa có vẻ như tràn về phía sau mỗi ý thơ, từ thực tại hướng về quá vãng và ngược lại. Nhà thơ tài hoa Trần Hòa Bình từng chia sẻ: "Hãy xem cái cách đi đứng của người đàn ông. Tránh đứa bé đang ngồi chơi bi. Tránh ông già lim dim sưởi nắng. Tránh người yêu xưa đầu đường áo trắng - người đàn ông đang đi vào một thế giới vừa hiện diện trước mắt lại vừa lung linh trong tâm tưởng. Những gì anh nhìn thấy đều nhói lên một vẻ đẹp dịu dàng và buồn bã, như những chiếc bong bóng nước mỏng manh trong vắt, đến nỗi anh có cảm giác nếu chạm vào là chúng sẽ tan vỡ mất!" Tên bài thơ là thế, nhưng tình thơ không chỉ thế, không nhất thiết rành rẽ phố xưa hay người xưa, chỉ một nỗi niềm bời bời đồng hiện và lặng lẽ dư ba!
Y Phương đã thổi vào thơ một điệu hồn tha thiết sương núi hương rừng; một điệu hồn quấn quyện tình đất, tình quả, tình cây, tình hoa, tình đá; một điệu hồn nghiêng ngả câu hát Hà Lều, đẫm men đàn tính, đàn then... 

Nguyễn Trọng Hoàn

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh